Học vấn của Warren Buffett

học vấn của buffett

Rất ít người có thể tiến gần tới kỷ lục đầu tư của Warren Buffett, và sự thực là không ai có thể vượt kỷ lục này. Suốt bốn thập kỷ chứng kiến những thăng trầm của thị trường chứng khoán, ông vẫn tiếp tục gặt hái những thành công mà không ai có thể sánh kịp. Việc ông làm không có gì là hào nhoáng, thậm chí đôi khi còn rất không thiện ý. Tuy vậy, hết lần này đến lần khác, ông đánh bại những nhà đầu tư khác – những người mà hành động mạo hiểm mang lại cho họ thành công tạm thời, và danh tiếng nhất thời. Rồi, ông quan sát, mỉm cười và tiếp tục con đường của mình.

Vậy Buffett đúc kết triết lý đầu tư của mình như thế nào? Ai là người có ảnh hưởng tới lối suy nghĩ của ông, và ông kết hợp những hướng dẫn của họ vào thực tiễn ra sao? Hay nói cách khác, thiên tài đặc biệt tạo ra sự khác biệt như thế nào?

Phương pháp đầu tư của Warren Buffett là của riêng ông, tuy vậy nó dựa trên những triết lý được lĩnh hội từ bốn nhân vật nổi tiếng: Benjamin Graham, Philip Fisher, John Burr Williams, và Charles Munger. Chính họ ảnh hưởng tới những kiến thức tài chính của Buffett, cả chính thức và không chính thức.

Ba người đầu tiên là những nhà giáo dục cổ điển, và người cuối cùng vừa là cộng sự, vừa là người bạn chí cốt của ông. Tất cả đều có ảnh hưởng quan trọng tới lối suy nghĩ của Buffett. Họ đều có rất nhiều lý thuyết để cung cấp cho nhà đầu tư hiện đại.

Xem thêm: chứng quyền có bảo đảm là gì

Con người và công ty của Buffett – Phần 2

Từ cuối những năm 1990 đến nay, Buffett không còn chủ động trên thị trường chứng khoán như những năm 1980 và đầu những năm 1990 nữa. Nhiều người nhận thấy sự thiếu chủ động này và băn khoăn không biết đó có phải là dấu hiệu cho thấy thị trường đã đạt đến mức đỉnh cao. Những người khác lại dựa vào lý thuyết và quả quyết rằng việc thiếu hụt những vụ mua bán chứng khoán quan trọng chỉ đơn giản là do loại chứng khoán Buffett thích mua từ lâu đã không còn được bán ở mức giá hấp dẫn nữa.

_103202187_warrenbuffet

Chúng ta biết Buffett thích “mua sự chắc chắn với giá chiết khấu”. “Sự chắc chắn” ở đây được xác định nhờ dự đoán tình hình kinh tế của một công ty. Càng tiên liệu chính xác tình hình kinh tế của một công ty, thì độ tin cậy của những đánh giá về công ty sẽ càng chắc chắn hơn. Khi chúng ta nhìn vào bản danh sách những chứng khoán Buffett sở hữu cũng như những công ty mà Berkshire sở hữu, chúng ta sẽ bất ngờ trước khả năng tiên liệu đó. Phần ‘’chiết khấu’’ trong bản báo cáo rõ ràng là ám chỉ giá chứng khoán.
Khi biết Buffett thích mua chứng khoán có khả năng dự đoán tình trạng kinh tế cao ở mức giá thấp hơn giá trị thực, chúng ta có thể kết luận rằng khi hoạt động mua của ông bất ngờ chững lại chứng tỏ có sự thiếu hụt lựa chọn trên đấu trường này. Tôi tin chắc rằng, nếu hiện nay Coca-Cola, Gillette, hoặc các công ty khác bán cổ phiếu với giá 20 xu, thì Buffett sẽ đưa thêm nhiều cổ phiếu hơn nữa vào danh mục đầu tư của Berkshire.

Chúng ta biết nguyên tắc đầu tư của Warren Buffett là chỉ kinh doanh trong “vòng tròn khả năng”. Hãy coi vòng tròn khả năng này như quá trình tích luỹ kinh nghiệm của bạn. Nếu một người nào đó điều hành thành công một ngành kinh doanh nào đó trong một thập kỷ hoặc hơn, chúng ta nói rằng người đó có trình độ năng lực cao để đạt được mục tiêu. Tuy vậy, nếu một người chỉ có rất ít năm kinh nghiệm điều hành một ngành kinh doanh mới, chúng ta sẽ có lý do nghi ngờ trình độ, khả năng của người đó. Có lẽ trong suy nghĩ của Buffett, kinh nghiệm điều hành và nghiên cứu kinh doanh danh mục đầu tư của Berkshire đặt ra vòng tròn khả năng quá cao đến mức khó đạt được một trình độ tương tự đối với am hiểu một ngànhmới.
Vì vậy, có lẽ Buffett đang gặp phải tình huống tiến thoái lưỡng nan. Với vòng tròn khả năng của ông, những loại chứng khoán ông thích mua hiện không được bán với mức giá chiết khấu. Cùng lúc đó, bên ngoài vòng tròn khả năng của ông, những doanh nghiệp có tốc độ tăng trưởng nhanh hơn đang dần đi vào hoạt động trong những ngành mới mà không đạt được mức độ chắc chắn về mặt kinh tế cao như Buffett yêu cầu. Nếu phân tích này đúng, nó lý giải nguyên nhân tại sao trong vài năm trở lại đây, ông không thực hiện vụ mua bán chứng khoán nào lớn.

Chúng ta thực sự ngốc nghếch khi giả thiết rằng bởi vì danh mục chứng khoán sẵn sàng để đầu tư đang giảm dần, nên Warren Buffett không có sự lựa chọn đầu tư nào. Chắc chắn, ông vẫn tích cực chủ động trong thị trường chứng khoán lợi tức cố định, gồm nắm giữ trái phiếu lợi tức cao trong năm 2002. Ông cũng cảnh báo về mua bán song hành theo chu kỳ, nhưng cần phải xem xét khoản vốn đầu tư Buffett cần để đầu tư nhằm thu được những khoản lợi nhuận lớn, các thị trường mua bán song hành có lẽ không mang lại lợi nhuận như trước đây nữa.

Song, những cổ đông của Berkshire Hathaway không nên cảm thấy họ đang bị tước đi các cơ hội. Thông thường, các cổ đông quên mất một trong những nguyên tắc kinh doanh quan trọng nhất có liên quan tới chủ sở hữu mà Buffett vạch ra mỗi năm trong bản báo cáo thường niên. Nguyên lý thứ tư chỉ ra rằng: “Mức độ ưu tiên sẽ giúp chúng ta đạt được mục tiêu (tối đa hoá tỉ lệ lợi nhuận trung bình thường niên của Berkshire) thông qua việc sở hữu trực tiếp một nhóm các ngành kinh doanh đa dạng tạo ra tiền mặt và luôn thu được mức lợi nhuận trên vốn vượt mức trung bình. Lựa chọn thứ hai của chúng ta là sở hữu cổ phần của những doanh nghiệp đạt được thành công ban đầu bằng cách mua bán những cổ phiếu thường trên thịtrường.

Trong những năm mới khởi sự, Berkshire sở hữu những cổ phiếu thường có giá trị kinh tế nhất. Hiện tại, khi giá cổ phiếu thường tăng đáng kể và sức mua cổ phiếu của Berkshire phát triển nhanh chóng, chiến lược mua lại toàn bộ các công ty từng được Buffett tuyên bố là ưu tiên hàng đầu.

Cũng có một nhân tố cá nhân ở đây. Chúng ta biết, Buffett rất thích mối quan hệ của ông với các Giám đốc Điều hành và rất tự hào về các hoạt động kinh doanh của Berkshire. Ngược lại, sự lo lắng khi là một cổ đông của các công ty thương mại, với những vấn đề về thù lao điều hành và chiến lược tái đầu tư vốn đầy nghi ngờ đi kèm với quyền sở hữu, khiến việc trở thành một cổ đông không còn hấp dẫn với Buffett như trước đây. Nếu nền kinh tế không hấp dẫn, vậy tại sao Buffett lại lựa chọn để phải chịu đựng sự thất bại trong quản lý công ty kết hợp với việc là một cổ đông lớn?

Hoạt động duy nhất mà Buffett tham gia điều hành hoạt động kinh doanh của Berkshire là đặt ra mức thù lao điều hành và phân bổ lợi nhuận. Bên trong thế giới của Berkshire, có những quyết định rất hợp lý. Bên ngoài thị trường chứng khoán, các quyết định thù lao điều hành và phân bổ nguồn vốn không phải lúc nào cũng hợp lý.

Điều đó có nghĩa gì đối với các nhà đầu tư cá nhân? Bởi vì Buffett không chủ động tham gia vào thị trường chứng khoán, nên họ cũng không tự động rút lui? Chiến lược lựa chọn của Buffett là mua đứt các công ty trong ngành kinh doanh, một lựa chọn mà đa số các nhà đầu tư đều không làm được. Vậy, họ nên tiến hành đầu tư như thế nào?

Có hai lựa chọn rất rõ ràng. Một là tiến hành đầu tư theo Berkshire Hathaway, và cũng tham gia vào tình trạng kinh tế của những ngành kinh doanh đáng chú ý. Lựa chọn thứ hai là áp dụng phương pháp đầu tư của Buffett, mở rộng vòng tròn khả năng của bạn bằng cách chăm chỉ nghiên cứu những mô hình kinh doanh của các công ty đang tham gia vào khu vực Kinh tế Mới, và bắt đầu khởi sắc.

Tôi tin rằng những nguyên lý cơ bản giúp Buffett luôn đưa ra quyết định dứt khoát và chúng sẽ tiếp tục mang đến cơ hội cho những nhà đầu tư thận trọng làm tốt hơn khi đầu tư vào chỉ số S&P 500. Mục đích của cuốn sách này là trình bày những nguyên lý đó theo cách mà các nhà đầu tư thận trọng có thể hiểu và sử dụng được.

Xem thêm: Đăng ký mở tài khoản chứng khoán

Con người và công ty của Buffett

Thật không dễ mô tả Warren Buffett. Về ngoại hình, ông không có gì nổi bật. Về trí tuệ, ông được coi là một thiên tài, nhưng mối quan hệ thực tế của ông với mọi người thực sự rất phức tạp. Ông giản dị, thẳng thắn, trung thực và chân thật. Ông thể hiện sự kết hợp đầy quyến rũ giữa trí thông minh lạnh lùng tinh tế và sự hóm hỉnh thật thà. Ông tôn sùng sâu sắc tất cả mọi thứ logic và cực kỳ chán ghét hành động khờ dại. Ông theo đuổi sự giản đơn và né tránh điều phức tạp.

Con người và công ty của buffett

Khi đọc những bản báo cáo thường niên của Berkshire, độc giả sẽ ấn tượng trước cách Buffett trích dẫn Kinh Thánh, John Maynard Keynes, hoặc Mae West thật tự nhiên. Thế giới có thể mổ xẻ ở đây chính là đọc. Mỗi bản báo cáo dài khoảng từ 60 tới 70 trang với luồng dày đặc thông tin: Không có hình vẽ, không đồ thị màu, không biểu đồ. Những ai được rèn luyện đủ để bắt đầu với trang số 1 và tiếp tục không dừng lại xứng đáng được nhận một phần thưởng với một liều thuốc cho khả năng nhạy bén tài chính, sự hóm hỉnh dễ gần, và lòng chân thật không nao núng. Buffett thể hiện tính vô tư trong báo cáo. Ông nhấn mạnh cả điểm yếu và điểm mạnh về tình hình kinh doanh của Berkshire. Ông tin rằng những người sở hữu cổ phiếu của Berkshire chính là những người chủ của công ty, và ông nói với họ nhiều như ông mong muốn được nghe nếu ông ở vị trí của họ.

Khi Buffett giành quyền kiểm soát Berkshire, giá trị ròng của công ty là 22 triệu đô la. Sau 40 năm, con số này tăng lên 69 tỉ đô la. Con số vượt xa mục tiêu của Buffett là làm giá trị sổ sách hàng năm của Berkshire Hathaway tăng lên 15% vượt xa số lợi nhuận mà một công ty Mỹ trung bình đạt được. Kể từ khi ông nắm quyền kiểm soát Berkshire năm 1964, lợi nhuận của công ty tăng lên đáng kể: Giá trị sổ sách trên một cổ phiếu tăng từ 19 đô la lên 50.498 đô la, đạt mức 22,2% lợi nhuận thường niên. Tình hình hoạt động cân đối này còn gây ấn tượng mạnh hơn khi bạn biết Berkshire phải đóng cả thuế lợi nhuận, vốn và lợi nhuận thu được từ chỉ số S&P 500 là trước thuế.

Bắt đầu từ năm 1979, theo quy định, các công ty bảo hiểm phải đánh giá giá trị cổ phiếu họ nắm giữ trên thị trường thay vì trên mức chi phí hoặc thị trường thấp hơn. Trong bảng số liệu này, kết quả đạt được của Berkshirre suốt năm 1978 đã được trình bày lại cho phù hợp với những quy định mới. Trên tất cả các khía cạnh khác, các kết quả này được tính toán từ những con số trong bản báo cáo gốc.

Số liệu của chỉ số S&P 500 là con số trước thuế trong khi số liệu của Berkshire là sau thuế. Nếu một công ty như công ty Berkshire chỉ đơn giản nằm trong danh sách của S&P 500 và dồn số tiền thuế thích hợp lại, thì kết quả của nó sẽ kéo S&P 500 tụt lại phía sau khi chỉ số cho thấy một kết quả khả quan, nhưng sẽ vượt quá S&P hàng năm khi chỉ số cho thấy một kết quả tiêu cực. Qua nhiều năm, chi phí thuế gây ra sự trì trệ ngày càng lớn.
Đôi khi, lợi nhuận của Berkshire cũng có biến động. Biến động này bắt nguồn từ sự thay đổi trên thị trường chứng khoán. Do đó, những cổ phiếu ưu đãi mà Berkshire nắm giữ có biên độ dao động lớn trong giá trị trên mỗi cổ phiếu.

Để hiểu rõ biến động, hãy so sánh kết quả của năm 1998 với năm 1999. Trong năm 1998, giá trị của Berkshire tăng hơn 48%. Sau đó, đến năm 1999, phần giá trị tăng của Berkshire giảm không đáng kể là 0,5%, tuy vậy chỉ số S&P 500 tăng 21%. Hai nhân tố có liên quan tới kết quả này: Kết quả của Berkshire là do doanh thu từ những sản phẩm tiêu dùng không bền (Coca- Cola và Gillette) giảm đáng kể, trong khi chỉ số S&P tăng là do hoạt động đáng chú ý của cổ phiếu công nghệ mà Berkshire không sở hữu.
Buffett thừa nhận trong bản báo cáo thường niên năm 1999: “Sự vượt trội thực sự lớn so với chỉ số S&P đã thuộc về quá khứ”. Tuy vậy, ông dự đoán rằng theo thời gian thành tích của Berkshire sẽ tốt hơn một chút so với S&P. Ba năm tiếp theo, điều này trở thành sự thực.

Năm 2003, mặc dù Berkshire có một năm hoạt động rất tuyệt vời, giá trị sổ sách tăng 21%, nhưng chỉ số S&P thậm chí còn cao hơn thế.

Xem thêm: Mở tài khoản chứng khoán trực tuyến

Công ty hợp danh đầu tư TNHH Buffett

Công ty hợp danh đầu tư khởi sự với bảy hội viên trách nhiệm hữu hạn cùng đóng góp được 105000 đô la. Các hội viên TNHH hàng năm nhận được 6% trên vốn đầu tư của họ và 75% doanh lợi vượt mức vừa kể. Còn Buffett người chịu trách nhiệm chung nắm quyền kiểm soát đầu tư ở quỹ hợp danh chỉ nhận được 25% khoản doanh lợi vượt mức này.Hơn 13 năm sau, Buffett tích lũy được khoản tiền bằng số vốn ban đầu nhân với tỷ lệ kép hàng năm 29,5%. Đó không phải là một kết quả dễ đạt được. Mặc dù chỉ số công nghiệp trung bình Dow Jones giảm giá trong năm năm khác nhau của giai đoạn 13 năm đó, công ty hợp danh Buffett vẫn không hề đi xuống. Thực tế, Buffett bắt đầu thành lập công ty với tham vọng vượt qua chỉ số Dow Jones mỗi năm 10 điểm. Và ông đã vượt qua chỉ số này không chỉ là 10 mà là 20 điểm mỗi năm!

moo06_6-copy

Khi uy tín của Buffett tăng lên, nhiều người tới hỏi ông cách quản lý tiền. Trong thời gian điều hành công ty hợp danh này, Buffett đầu tư nắm quyền kiểm soát một số công ty công và tư nhân. Năm 1962, ông bắt đầu mua cổ phiếu của một công ty dệt may đang èo uột là Berkshire Hathaway.

Cùng năm 1962, Buffett chuyển văn phòng công ty hợp danh từ quê nhà ông tới Kiewit Plaza tại Omaha, chính là trụ sở văn phòng cho tới tận ngày hôm nay. Năm tiếp theo, ông có một vụ đầu tư gây choáng váng dư luận.

Một vụ bê bối có liên quan tới một trong những khách hàng làm huỷ hoại danh tiếng của American Express khiến cổ phiếu của hãng rớt giá từ 65 đô la xuống còn 35 đô la chỉ trong vòng một đêm. Buffett đã áp dụng rất tốt bài học của Ben Graham: Khi cổ phiếu của một công ty lớn đang bán dưới mức giá trị thực của nó, hãy hành động thật quyết đoán. Buffett có một quyết định đầy táo bạo: Dùng 40% tổng số tài sản của công ty hợp danh, 13 triệu đô la, để mua cổ phiếu của American Express. Hơn hai năm sau, cổ phiếu đó tăng giá lên gấp ba lần, và các thành viên hợp tác thu được lợi nhuận ròng 20 triệu đô la. Đó là Graham đích thực – Buffett đích thực.

Năm 1965, tài sản của công ty hợp danh đã tăng lên 26 triệu đô la. Bốn năm sau, với lý do thấy thị trường có tính chất đầu cơ cao và những giá trị thực đang ngày càng khan hiếm, Buffett quyết định chấm dứt Công ty hợp danh đầu tư.

Khi công ty hợp danh đầu tư giải thể, các nhà đầu tư hoạt động đều được chia phần đầy đủ. Một vài người trong số đó, theo lời khuyên của Buffett, đã tìm kiếm nhà quản trị tài chính Bill Ruane, người bạn học cũ của ông tại Columbia. Ruane chấp nhận quản lý tài chính cho một số hội viên cũ, và Sequoia Fund được thành lập. Các hội viên khác của Công ty hợp danh kể cả Buffett đầu tư phần lợi nhuận hợp tác của họ vào Berkshire Hathaway. Tại thời điểm đó, phần vốn liếng của Buffett ở công ty hợp danh đầu tư cũ đã tăng lên 25 triệu đô la, và khoản tiền ấy giúp ông đủ sức nắm quyền điều hành Berkshire Hathaway.

Những gì ông làm đã nổi tiếng trong giới đầu tư trên toàn thế giới. Thậm chí những người chỉ với một chút lợi nhuận thoáng qua trên thị trường chứng khoán cũng nhận ra tên của Buffett và biết một vài điều về thành công lẫy lừng của ông. Trong các chương tiếp theo, chúng ta sẽ theo dõi những thăng trầm của Berkshire Hathaway trong 40 năm Buffett điều hành. Có lẽ, quan trọng hơn là chúng ta sẽ nhìn sâu vào bên trong để khám phá đến tận cùng triết lý phán đoán chung mà nhờ nó, ông đã tạo dựng thành công cho mình.

Xem thêm: Chứng quyền warrant là gì?

Warren Buffett khởi nghiệp đầu tư

Warren buffett khoi nghiep

Warren Edward Buffett sinh ngày 30 tháng Tám năm 1930 tại Omaha, Nebraska. Ông nội ông là chủ một cửa hàng tạp hoá (và từng thuê chàng trai trẻ Charlie Munger) còn cha ông là một nhà môi giới chứng khoán địa phương. Từ thời niên thiếu, Warren Buffett đã ham mê những con số đến mức có thể ghi nhớ dễ dàng các kết quả tính toán. Lên tám tuổi, Buffett bắt đầu đọc các tác phẩm viết về thị trường chứng khoán của cha mình. 11 tuổi, Buffett chú ý tìm hiểu bảng niêm yết giá cổ phiếu ở nơi cha ông làm việc.
Những năm tháng thiếu thời của ông đầy sinh động với những cuộc phiêu lưu kinh doanh, và ông thành công đến nỗi ông nói với cha rằng ông muốn bỏ qua ‘’khâu học đại học” để tiến thẳng vào sự nghiệp kinh doanh. Nhưng cha ông đã từ chối.

Buffett tham dự khoá học kinh doanh tại trường Đại học Nebraska, và trong quá trình học, ông đọc một cuốn sách mới về đầu tư của một giáo sư trường Đại học Columbia có tên là Benjamin Graham. Đó chính là cuốn The Intelligent Investor (Nhà đầu tư thông minh). Buffett rất tâm đắc với những ý kiến của Graham, và ông đã dự tuyển vào trường Đại học Columbia để được học tập trực tiếp với giáo sư Graham. Nhớ lại những tháng ngày đó, Bill Ruane, nay là Chủ tịch của Sequoia Fund (Quỹ cây tùng) và là bạn cùng lớp với ông kể rằng đã có một phản ứng hoá học tinh thần xảy ra tức thì giữa Graham và Buffett, và phần còn lại của lớp học là khán giả đầu tiên.

Không lâu sau khi Buffett tốt nghiệp trường Đại học Columbia với tấm bằng cao học kinh tế, Graham đã mời người cựu sinh viên của mình tham gia công ty của ông, Công ty Graham-Newman. Suốt hai năm làm việc ở đây, Buffett thực sự bị lôi cuốn bởi phương pháp đầu tư của người thầy thông thái. (Đọc Chương 2 để biết một cuộc tranh luận đầy đủ về triết lí kinh doanh của Graham).

Năm 1956, Graham – Newman giải thể vì Graham lúc ấy đã 61 tuổi. Ông quyết định nghỉ hưu. Buffett lại quay về Omaha. Với những kiến thức lĩnh hội được từ Graham cùng sự hỗ trợ tài chính của gia đình và bạn bè, cộng với 100 đô la của chính mình, Buffett khai trương Công ty hợp danh đầu tư trách nhiệm hữu hạn. Lúc đó, ông mới 25 tuổi.

Xem thêm: Cách giao dịch chứng khoán

Warren Buffett – Nhà đầu tư vĩ đại nhất thế giới

warrenbuffett

Hàng năm, tạp chí Forbes công bố danh sách 400 người Mỹ giàu nhất, The Elite Forbes 400. Những cá nhân trong danh sách xuất hiện rồi biến mất từ năm này qua năm khác khi hoàn cảnh cá nhân của họ thay đổi và lĩnh vực của họ có những bước thăng trầm, nhưng có một số tên tuổi vẫn luôn tồn tại. Trong số những cá nhân dẫn đầu danh sách trong nhiều năm là những siêu tỉ phú. Họ là những người tìm thấy sự giàu có từ một sản phẩm nào đó (phần mềm hoặc phần cứng máy tính), một dịch vụ (bán lẻ), hoặc nhờ vào khoản thừa kế may mắn. Trong số top 5 người giàu có nhất luôn có tên trong bản danh sách, chỉ có duy nhất một người làm giàu nhờ khả năng thấu hiểu đầu tư. Người đó chính là Warren Buffett.

Đầu những năm 1990, ông đã xếp số một trong bản danh sách. Sau đó một vài năm, ông dao động giữa vị trí số 1 và số 2 với một chàng trai có tên là Bill Gates. Thậm chí là tại thời điểm hiện tượng dot.com bùng nổ hồi năm 2000, khi phần lớn những đại diện cho sự giàu có trong bảng xếp hạng 400 của Forbes đều vươn lên nhờ sự phát triển hiện tượng trong công nghệ, thì Buffett, con người luôn vui vẻ lảng tránh bất cứ thứ gì liên quan đến công nghệ cao, vẫn đứng vững chắc ở vị trí thứ 4. Ông vẫn là cá nhân duy nhất trong top 5 có “nguồn gốc của sự giàu có’’ được xếp vào “thị trường chứng khoán’’. Năm 2004, ông trở lại với vị trí thứ 2.

Năm 1956, Buffett bắt đầu đầu tư với 100 đô la; sau 30 năm, ông sở hữu một khoản tiền là 25 triệu đô la. Tại thời điểm viết cuốn sách này (giữa năm 2004), giá trị thu nhập ròng cá nhân của ông đã tăng lên 42,9 tỉ đô la, chứng khoán trong công ty ông đang bán ở mức giá 92.900 đô la một cổ phiếu, và hàng triệu các nhà đầu tư trên thế giới bám riết lấy từng lời của ông.
Tuy vậy, để thực sự hiểu đầy đủ giá trị của Warren Buffett, chúng ta phải đi xa hơn tiền bạc, những lời ngợi ca, và danh tiếng.

Xem thêm: Chứng quyền có đảm bảo là gì?

Làm quen với Hedging – công cụ bảo vệ danh mục đầu tư

Phòng vệ rủi ro (hedging) là kỹ thuật mà mọi nhà đầu tư đều nên biết. Việc bảo vệ danh mục đầu tư thường quan trọng không kém việc phát triển danh mục đầu tư đó. Ngay cả khi bạn là người mới bắt đầu, bạn có thể tìm hiểu về hedging, cơ chế hoạt động cũng như những chiến thuật rủi ro mà nhà đầu tư và các công ty sử dụng để bảo về danh mục đầu tư của mình.

phòng ngừa rủi ro phái sinh

Tại sao phải phòng hộ?

  • Để làm ổn định dòng tiền
  • Để xác định giá bán / mua hàng hóa / bảo đảm
  • Để giảm rủi ro tiềm ẩn
  • Để giảm chi phí giao dịch

Về bản chất, khi giao dịch ở thị trường tương lai, nhà đầu tư có thể phòng ngừa rủi ro và tìm kiếm lợi nhuận với kỹ thuật Hedge. Giao dịch phòng vệ rủi ro ngược lại với giao dịch đầu cơ – những người phòng ngừa rủi ro không cố gắng “giành chiến thắng” và kiếm tiền dựa trên biến động giá thực tế. Khóa giá hôm nay cho phép tập trung tốt hơn vào việc lập kế hoạch và phát triển kinh doanh với mức rủi ro tối thiểu đối với rủi ro thị trường không mong muốn. Bảo hiểm danh mục đầu tư có thể khác nhau về độ phức tạp từ “giao dịch ngoài thiết lập” tương đối đơn giản cho đến các cấu trúc phái sinh phức tạp.

Nguyên tắc chính đằng sau kỹ thuật phòng ngừa rủi ro

Phòng ngừa (hedge) khi thực hiện vị thế bán là một chiến lược đầu tư nhằm mục tiêu giảm bớt rủi ro có thể gặp phải. Short trong thuật ngữ trên “short- hedge” là muốn đề cập đến hành động bán khống một chứng khoán, thường là một hợp động tương lai, để có thể phòng ngừa rủi ro tránh các khoản lỗ tiềm ẩn trong một khoản đầu tư được nắm giữ suốt thời gian dài.

Nếu chiến lược phòng ngừa vị thế bán được thực hiện tốt, các khoản lời từ vị thế mua sẽ bù lại các khoản lỗ trong vị thế phái sinh và ngược lại.

Lợi ích so với chi phí cơ hội

Lợi ích:

Khả năng quản lý rủi ro giá ở một mức độ cần thiết, lập kế hoạch tốt hơn, phát triển kinh doanh và linh hoạt hơn đối với các chính sách giá.

Chi phí:

Có khả năng bỏ lỡ bất kỳ lợi nhuận tiềm năng từ biến động thị trường, tiền mặt tạm thời và phí môi giới.

Ví dụ: Nhà đầu tư có danh mục gồm 2 mã cổ phiếu với trị giá 10 triệu đồng. Do lo lắng thị trường giảm điểm, nhà đầu tư đã thực hiện Short (bán khống) 01 hợp đồng tương lai.

Giả sử thị trường thật sự giảm điểm. Danh mục của nhà đầu tư giảm còn 8 triệu. Tuy nhiên, vị thế Short tại hợp đồng tương lai đã lời 1 triệu. Do vậy, nhà đầu tư chỉ còn lỗ 1 triệu, ít hơn so với việc không phòng ngừa rủi ro.

Bảo hiểm rủi ro tương lai của nhà sản xuất – ví dụ niken

làm quen với hedging

Nếu giá niken giảm – tổn thất vật chất được bù đắp bằng lợi nhuận tương lai.

Nếu giá niken tăng – lợi nhuận trên thị trường vật chất được bù đắp bằng thua lỗ trên thị trường tương lai.

Giá được cố định ở mức 30 nghìn đô la Mỹ / tấn bất kể biến động giá niken trong tương lai.

Xem thêm: Phòng ngừa rủi ro với hợp đồng tương lai như thế nào?