HƯỚNG DẪN ĐẦU TƯ – Nguyên lý quản lý

Thậm chí khi các nhà quản lý chấp nhận quan điểm cho rằng công ty của họ phải thay đổi hoàn toàn hoặc sẽ đối mặt với khả năng phải đóng cửa, thì thực hiện kế hoạch này quá khó đối với hầu hết các nhà quản lý. Rất nhiều người không chịu nổi sức cảm dỗ thà mua một công ty mới còn hơn là tiếp tục đối mặt với những con số tài chính của vấn đề hiện tại.

Vậy tại sao họ lại làm điều này? Buffett tách biệt ba nhân tố ông cảm thấy là có ảnh hưởng lớn nhất tới hành vi của ban quản lý. Trước hết, hầu hết các nhà quản lý không thể kiểm soát được sự thèm khát hành động. Hành động thái quá kiểu này thường dẫn tới việc đại lý của công ty sẽ thuộc về các nhà tiếp quản công ty. Thứ hai, hầu hết các nhà quản lý luôn luôn so sánh doanh thu, lợi nhuận, thù lao điều hành của công ty họ với các công ty khác cả trong và ngoài ngành. Những sự so sánh này lúc nào cũng vậy sẽ là lời kêu gọi hành động thái quá. Cuối cùng, Buffett tin rằng hầu hết các nhà quản lý đều phóng đại khả năng quản lý của họ.

Một vấn đề phổ biến khác đó là kỹ năng phân bổ yếu kém. Như Buffett chỉ ra, các CEO thường tiến lên vị trí của họ do nổi trội hơn trong những lĩnh vực khác của công ty, bao gồm quản trị, kỹ sư, marketing, hoặc sản xuất. Do họ có ít kinh nghiệm phân bổ nguồn vốn, nên hầu hết các CEO chuyển công việc đó sang các nhân viên, tư vấn viên, hoặc chủ ngân hàng. Tại đây, tính cưỡng chế tổ chức bắt đầu tham gia vào quá trình đưa ra quyết định. Buffett chỉ ra rằng nếu CEO khát khao một vụ chuyển nhượng tiềm năng đòi hỏi một tỉ lệ 15% lợi nhuận trên vốn đầu tư để bảo lãnh cho vụ mua bán, thì sẽ thật đáng kinh ngạc khi các nhân viên báo cáo cho ông ta rất trôi chảy rằng doanh nghiệp đó thực tế có thể đạt được 15,1%.

Minh chứng cuối cùng cho tính cưỡng chế tổ chức là sự bắt chước máy móc. Nếu tất cả các công ty A, B, và C cùng làm một thứ giống nhau, thì chắc chắn đó chính là nguyên nhân khiến CEO của công ty D cũng phải buộc công ty của ông hành động như vậy.
Buffett tin rằng đó không phải là do tính chất dễ bị mua chuộc hay là sự ngu dại, mà đó là những tình huống khiến các công ty này thất bại. Hơn thế nữa, đó là sự năng động tổ chức của tính cưỡng chế khiến cho việc chống lại hành vi bị lên án trở nên khó khăn.

Nguyên lý quản lý (P14)

Nếu ban quản lý có được sự khôn ngoan và lòng tín nhiệm bằng cách sẵn sàng đối mặt với các sai lầm, vậy tại sao lại có quá nhiều các bản báo cáo thường niên chỉ để cập đến sự thành công? Nếu phân bổ nguồn vốn quá đơn giản và hợp lý, thì tại sao nguồn vốn lại được phân bổ quá nghèo nàn? Buffett đã biết rằng câu trả lời là một lực lượng vô hình mà ông gọi là “institutional imperative” cưỡng chế tổ chức – khuynh hướng trong đó các nhà quản lý bắt chước hành vi của những nhà quản lý khác mà không cần biết rằng hành vi đó có thể ngu ngốc hoặc bất hợp lý như thế nào.

_103202187_warrenbuffet

Ông nói rằng đó là một phát hiện của sự nghiệp kinh doanh đáng ngạc nhiên nhất. Tại trường, ông được dạy rằng những nhà quản lý có kinh nghiệm là những người chân thật, thông minh và tự động đưa ra những quyết định kinh doanh hợp lý. Trong khi ở bên ngoài thế giới kinh doanh, ông lại học được rằng “sự hợp lý thường bị hao mòn đi khi tính cưỡng chế tổ chức phát huy tác dụng”.

Buffett đã học bài học này từ lâu. Jack Ringwalt, Giám đốc Công ty Bồi thường Quốc gia (National Indemnity), mà Berkshire mua lại hồi năm 1967, giúp Buffett khám phá ra sức mạnh của tính cưỡng chế. Trong khi phần lớn các công ty bảo hiểm đều ký các hợp đồng bảo hiểm dựa trên điều khoản bảo đảm cho trường hợp lợi nhuận của công ty không đủ hoặc tệ hơn là trong trường hợp bị thua lỗ, thì Ringwalt đã bước ra khỏi thị trường và từ chối ký các hợp đồng bảo hiểm mới. (Bạn có thể tham khảo câu chuyện đầy đủ trong Chương 3). Buffett đã nhận ra sự thông thái trong các quyết định của Ringwatl và làm theo chúng. Ngày nay, các công ty bảo hiểm của Berkshire vẫn hoạt động dựa trên nguyên tắc này.

Vậy đằng sau tính cưỡng chế tổ chức đã thúc đẩy rất nhiều doanh nghiệp là gì? Đó chính là bản chất con người. Hầu hết các nhà quản lý không sẵn lòng để phơi bày sự thua lỗ trầm trọng quý vừa rồi của công ty cho công chúng, trong khi những công ty khác quý vừa qua vẫn tạo được lợi nhuận, mặc dù chắc chắn họ đang đâm đầu xuống biển. Chuyển dịch phương hướng không bao giờ đơn giản. Đi theo con đường dẫn tới thất bại mà các công ty khác đã đi qua thường dễ dàng hơn thay đổi đường hướng của công ty.
Phải thừa nhận là, Buffett và Munger cùng được hưởng vị trí được bảo vệ giống nhau trong khuôn khổ tự do của họ để sẵn sàng ngay thật với tin xấu: Họ không phải lo lắng sẽ bị sa thải, và điều này làm họ tự do đưa ra những quyết định trái với lệ thường. Tuy vậy, một nhà quản lý với kỹ năng giao tiếp tốt nên thuyết phục các cổ đông chấp nhận thua lỗ trong ngắn hạn và thay đổi phương hướng của công ty nếu nó mang lại kết quả vượt trội theo thời gian.

Buffett đã học được rằng không thể chống lại tính cưỡng chế tổ
chức, thường thì sẽ có ít việc để làm với các cổ đông của công ty hơn các nhà quản lý sẵn sàng chấp nhận sự thay đổi căn bản.

Nguyên lý quản lý (P13)

Công ty Coca-Cola
Khi Roberto Goizueta tiếp quản công ty với tư cách là CEO, ông thực hiện chiến lược củng cố Coca-Cola chủ yếu là nhằm vào các cổ đông. Ông viết: “Trong suốt thập kỷ tiếp theo, chúng tôi sẽ tiếp tục hoàn toàn tận tâm với các cổ đông của chúng tôi cũng như đối với việc bảo vệ và tăng cường đầu tư của họ. Để mang lại cho các cổ đông của chúng tôi mức lợi nhuận trên vốn đầu tư trên trung bình, chúng tôi phải lựa chọn những doanh nghiệp tạo lợi nhuận vượt quá mức lạm phát”.

Buffett

Goizueta không chỉ phát triển các doanh nghiệp đòi hỏi đầu tư vốn, mà ông còn giúp làm tăng giá trị cổ đông. Thông qua việc tăng mức lợi nhuận biên và mức lợi nhuận trên vốn cổ phần, Coca-Cola vừa có thể tăng cổ tức đồng thời lại giảm tỉ lệ cổ tức phải chi. Trong những năm 1980, phần cổ tức dành cho các cổ đông tăng 10% một năm trong khi tỉ lệ cổ tức phải chi lại giảm từ 65% xuống còn 40%. Điều này cho phép Coca-Cola tái đầu tư một tỉ lệ phần trăm trong số tiền lãi lớn hơn nhằm duy trì tỉ lệ tăng trưởng mà không hề lừa bịp các cổ đông.

Không thể phủ nhận rằng Coca-Cola là một công ty có đẳng cấp cao hơn với một lịch sử hoạt động kinh tế nổi trội. Tuy vậy, trong những năm gần đây, mức độ tăng trưởng lại có phần khiêm tốn. Trong khi một số các cổ đông hoảng sợ thì Buffett không hề. Thực tế thì, ông không hề làm bất cứ điều gì cả, ông đã không bán dù là một cổ phiếu. Đó rõ ràng là một bằng chứng về niềm tin của ông dành cho công ty, và cũng là một minh chứng rõ ràng về sự đúng đắn trong những nguyên tắc của ông.

Tính cưỡng chế tổ chức

Nếu ban quản lý có được sự khôn ngoan và lòng tín nhiệm bằng cách sẵn sàng đối mặt với các sai lầm, vậy tại sao lại có quá nhiều các bản báo cáo thường niên chỉ để cập đến sự thành công? Nếu phân bổ nguồn vốn quá đơn giản và hợp lý, thì tại sao nguồn vốn lại được phân bổ quá nghèo nàn? Buffett đã biết rằng câu trả lời là một lực lượng vô hình mà ông gọi là “institutional imperative” cưỡng chế tổ chức – khuynh hướng trong đó các nhà quản lý bắt chước hành vi của những nhà quản lý khác mà không cần biết rằng hành vi đó có thể ngu ngốc hoặc bất hợp lý như thế nào.

Xem thêm: Mở tài khoản chứng khoán trực tuyến

Nguyên lý quản lý (P12)

Buffett tín nhiệm Charlie Munger, người giúp ông hiểu được giá trị khi nghiên cứu các sai lầm của người khác thay vì chỉ tập trung vào thành công của họ. Trong bản báo cáo thường niên của ông gửi các cổ đông Berkshire Hathaway, Buffett đã rất cởi mở về tình hình kinh tế và quản lý của Berkshire, cả tốt và xấu. Qua nhiều năm, ông thừa nhận những khó khăn mà Berkshire phải đối mặt trong cả ngành kinh doanh bảo hiểm và dệt may và những sai lầm trong cách quản lý của chính ông đối với những doanh nghiệp này.

Business Investment Analysis
Business investment report for the first half of fiscal year

Ông tự phê bình rất thẳng thắn và không tiếc lời. Vụ sáp nhật với Công ty tái bảo hiểm General Re năm 1998 mang đến cho công ty những rắc rối nghiêm trọng. Một vụ làm ăn tuyệt vời vẫn tiếp tục rơi vào bế tắc trong nhiều năm, và chỉ bắt đầu khởi sắc sau vụ tấn công khủng bố Trung tâm Thương mại Thế giới hồi năm 2001. Sau này, Buffett cho biết rằng vào thời điểm sáp nhập, ông đã nghĩ rằng công ty tái bảo hiểm hoạt động theo những chuẩn mực ông yêu cầu như đối với những công ty bảo hiểm khác của Berkshire. Năm 2002 ông thừa nhận: “Tôi thực sự đã mắc sai lầm. Có rất nhiều việc có thể làm để vực dậy công ty đó”.

Vấn đề của General Re không chỉ trong nằm trong phạm vi những dịch vụ bảo hiểm thông thường của công ty. Công ty cũng có một bộ phận chuyên trách buôn bán và các dịch vụ phái sinh, một ngành kinh doanh mà Buffett coi là không đáng chú ý tại thời điểm sáp nhập (mặc dù đó là một phần của gói bảo hiểm, không thể tránh khỏi) và lâm vào tình trạng tài chính trì trệ vài năm sau đó. Năm 2003, ông viết lời xin lỗi thẳng thắn cho các cổ đông: “Tôi chắc chắn tôi đã có thể tiết kiệm được cho các bạn khoảng 100 triệu đô la, nếu tôi hành động mau lẹ hơn để đóng cửa Công ty chứng khoán GenRe. Charlie sẽ nhanh chóng chuyển sang đóng cửa công ty đó – không có gì đáng bàn về việc đó cả. Tuy vậy, tôi đã bị lay động. Hậu quả là, các cổ đông của tôi đang phải trả một mức giá cao hơn rất nhiều so với cái giá cần thiết để duy trì doanh nghiệp này”.

Các nhà phê bình cho rằng thói quen thừa nhận sai lầm công khai của Buffett được thực hiện dễ dàng hơn bởi vì kể từ khi ông sở hữu một lượng lớn chứng khoán phổ thông của Berkshire như vậy, ông không bao giờ còn bị lo ngại sẽ bị đuổi việc. Điều này là chính xác. Nhưng nó không làm mất đi giá trị căn bản của niềm tin của Buffett là tính thật thà ít nhất sẽ đem lại lợi ích cho nhà quản lý nhiều như nó đem lại cho cổ đông. Ông nói: “Vị CEO lừa dối công chúng thì cuối cùng cũng có thể lừa dối chính bản thân anh ta trong chuyện riêng tư”.

Nguyên lý quản lý (P11)

Candor

Buffett đánh giá cao những nhà quản lý báo cáo đầy đủ và chính xác tình hình tài chính của công ty, biết thừa nhận sai lầm cũng như chia sẻ thành công, và luôn ngay thẳng với các cổ đông. Cụ thể là, ông tôn trọng những nhà quản lý có thể truyền thông tin hoạt động của công ty họ mà không hề che giấu đằng sau Các Nguyên tắc Kế toán được thừa nhận (GAAP).

chứng quyền có bảo đảm

Các tiêu chuẩn kế toán tài chính chỉ yêu cầu bảo mật những thông tin được phân loại theo phân đoạn ngành. Một số nhà quản lý đã khai thác yêu cầu tối thiểu hoá này và gộp tất cả các ngành kinh doanh của công ty thành một phân đoạn ngành, gây khó khăn cho các cho các chủ sở hữu trong việc hiểu và đánh giá tính năng động của ngành kinh doanh khác nhau mà họ quan tâm.

Buffett cho rằng: “Cái cần phải được báo cáo là dữ liệu – cho dù là Các nguyên tắc kế toán được thừa nhận (GAAP), không GAAP, hay vượt cả GAAP – bởi vì nó giúp người đọc bản báo cáo tài chính trả lời được ba câu hỏi quan trọng:

(1) Ước tính giá trị của công ty là vào khoảng bao nhiêu?

(2) Điều gì có thể xảy ra mà có thể đáp ứng được các nghĩa vụ trong tương lai?

Và (3) các nhà quản lý làm tốt công việc như thế nào, căn cứ vào quyền kiểm soát trong tay họ?”

Các bản báo cáo thường niên của Berkshire Hathaway là một ví dụ điển hình. Chúng đều đáp ứng các yêu cầu Nguyên tắc kế toán được thừa nhận (GAAP), và còn hơn cả thế. Buffett thêm phần báo cáo lợi nhuận riêng rẽ trong mỗi công ty con của Berkshire và bất kỳ thông tin phụ nào khác mà ông cảm thấy các cổ đông sẽ thấy cần thiết để đánh giá chính xác tình hình kinh tế của một công ty. Buffett thán phục những CEO có thể báo cáo cho các cổ đông theo lối thẳng thắn như vậy.

Ông cũng thán phục những ai có lòng dũng cảm nói chuyện cởi mở về khuyết điểm. Ông tin rằng các nhà quản lý mà dám công khai thừa nhận những sai lầm của mình sẽ dễ dàng sửa chữa chúng hơn. Theo Buffett, hầu hết những bản báo cáo thường niên là không chân thật. Theo thời gian, chắc chắn công ty nào cũng sẽ mắc phải sai lầm, cả nghiêm trọng và không nghiêm trọng. Ông tin rằng có quá nhiều nhà quản lý báo cáo với sự lạc quan thái quá thay vì giải thích chân thật, có lẽ chỉ là để phục vụ cho lợi ích của họ trong ngắn hạn, nhưng nếu xét về dài hạn thì không ai được lợicả.

Nguyên lý quản lý (P10)

Công ty Washington Post
Washington Post tạo ra dòng tiền mặt tương đối lớn cho các chủ sở hữu, nhiều hơn số có thể đem tái đầu tư vào các ngành kinh doanh cơ bản của công ty. Vì vậy ban quản lý công ty đang phải đứng trước hai sự lựa chọn hợp lý: Hoàn lại tiền cho cổ đông và/hoặc đầu tư có lãi số tiền mặt đó vào các cơ hội kinh doanh mới. Như chúng ta đã biết, Buffett muốn sở hữu các công ty hoàn lại số tiền mặt dư thừa cho các cổ đông. Washington Post, lúc đó Katherine Graham làm Chủ tịch Hội đồng Quản trị, là công ty báo chí đầu tiên trong ngành mua lại cổ phiếu với số lượng lớn. Giữa năm 1975 và năm 1991, công ty mua lại một con số không thể tin được là 43% số cổ phiếu của nó với giá trung bình là 60 đô la một cổ phiếu.

sách dạy đầu tư chứng khoán

Một công ty cũng có thể lựa chọn cách hoàn lại tiền cho cổ đông bằng cách làm tăng cổ tức. Năm 1990, đứng trước tình trạng tiền mặt dự trữ dư thừa, Washington Post đã bỏ phiếu để tăng mức cổ tức thường niên cho các cổ đông từ 1,84 đô la lên 4 đô la, tăng 117% (xem biểu đồ 6.1).

Cùng với việc hoàn lại số tiền mặt dư thừa cho các cổ đông, Washington Post cũng có một vài vụ mua bán có lãi khác: sở hữu dây cáp của Capital Cities, các công ty điện thoại di động, và các trạm thu phát truyền hình. Don Graham, người điều hành công ty hiện tại, vẫn đang tiếp tục bị bao vây trước những lời mời chào. Để thực hiện mục tiêu phát triển các dòng tiền mặt đáng kể với chi phí đầu tư có lợi, ông đã phát triển các nguyên tắc chỉ đạo cụ thể để đánh giá những lời mời chào này.

Ông tìm kiếm một doanh nghiệp “có lợi thế cạnh tranh, không yêu cầu chi phí vốn lớn, và khả năng định giá hợp lý”. Hơn thế nữa, ông còn nói thêm rằng: “Chúng tôi dành sự ưu đãi lớn cho những doanh nghiệp chúng tôi hiểu rõ”. và đưa ra sự lựa chọn: “Chúng tôi thích đầu tư vào một số vụ làm ăn lớn hơn là rải rác tiền ra khắp nơi”. Phương pháp mua lại của Graham hoàn toàn theo chiến lược tại Berkshire Hathaway của Buffett.
Sự năng động của ngành kinh doanh báo chí đã thay đổi trong nhiều năm trở lại đây.

Trước đây, khi nền kinh tế chậm lại và các nhà quảng cáo cắt giảm chi phí, các tờ báo duy trì khả năng lợi nhuận bằng cách tăng phí theo dòng. Nhưng các nhà quảng cáo ngày nay đã tìm thấy cách thức tiếp cận khách hàng rẻ hơn: Truyền hình cáp, thư trực tiếp, và chèn vào báo chí. Báo chí từ lâu đã không còn là độc quyền. Chúng đã mất đi khả năng linh động về giá cả vốn có.
Mặc dù vậy, Buffett vẫn tin tưởng rằng tờ Washington Post hoạt động tốt hơn các công ty thông tin đại chúng khác. Có hai lý do giải thích cho sự lạc quan của ông. Trước hết, nợ dài hạn của tờ báo này nhiều hơn phần bù lại bằng cổ phần tiền mặt. Washington Post là tờ báo công cộng duy nhất hoàn toàn không nợ. Buffett giải thích: “Kết quả là, sự thu hẹp giá trị tài sản của họ không bị ảnh hưởng trước các hiệu ứng đòn bẩy tài chính”. Thứ hai, ông cho rằng: “Washington Post được quản lý cực kỳ tốt”.

Xem thêm: Chứng quyền có bảo đảm là gì

Nguyên lý quản lý (P9)

Coca-Cola
Tăng trưởng dòng tiền thực cho phép Coca-Cola tăng cổ tức trả cho các cổ đông và cũng mua lại cổ phiếu của công ty trên thị trường tự do. Năm 1984, công ty mua lại cổ phiếu lần đầu tiên, thông báo công ty sẽ mua lại 6 triệu cổ phiếu. Kể từ đó, công ty đã mua lại hơn 1 tỉ cổ phiếu. Vụ mua lại này chiếm tới 32% cổ phiếu kể từ tháng Một năm 1984, ở mức giá trung bình là 12,46 đô la một cổ phiếu. Hay nói cách khác, công ty đã bỏ ra gần 12,4 tỉ đô la để mua cổ phiếu mà chỉ 10 năm sau chúng có giá thị trường xấp xỉ 60 tỉ đô la.
Tháng Bảy năm 1992, Coca-cola đã thông báo rằng trong suốt năm 2000, công ty sẽ mua lại 100 triệu cổ phiếu, chiếm 7,6% cổ phiếu của công ty. Đáng chú ý là, do khả năng tạo tiền mặt rất mạnh, công ty hoàn thành mục tiêu này trong khi vẫn tiếp tục đầu tư rất mạnh mẽ vào các thị trường khác.

sách dạy đầu tư chứng khoán

American Express

Buffett đã kết giao với American Express từ cách đây khoảng 40 năm khi ông dũng cảm mua lại số cổ phiếu đang rơi vào tình cảnh hiểm nghèo năm 1963 và sau đó ông nhanh chóng thu được lợi nhuận vô cùng lớn từ vụ đầu tư này (Đọc chi tiết câu chuyện tại Chương 1). Niềm tin Buffett dành cho công ty không hề thay đổi, và ông vẫn tiếp tục mua chứng khoán của nó. Vụ mua lớn hồi năm 1994 có thể xuất phát từ những quyết định vừa tốt vừa xấu của ban quản lý về việc sử dụng số tiền mặt dư thừa.

Bộ phận phát hành thẻ thanh toán và ngân phiếu du lịch của công ty – American Express Travel Related Services -đóng góp cổ phiếu có lợi nhuận lớn nhất. Bộ phận này cũng luôn tạo ra lợi nhuận chủ sở hữu đáng kể và tạo nguồn vốn giúp công ty tăng trưởng. Đầu những năm 1990, công ty đã tạo được nhiều tiền mặt hơn nhu cầu tiền mặt cho các hoạt động của công ty – một điểm rất quan trọng mà các quyết định quản lý mâu thuẫn với bài kiểm tra thử của Buffett. Trong trường hợp này, ban quản lý của American Express đã làm không được tốt lắm.

Sau đó, CEO James Robinson quyết định sử dụng số tiền mặt dư thừa để xây dựng công ty thành một tập đoàn dịch vụ tài chính hùng mạnh bằng cách mua lại các công ty có liên quan khác. Vụ chuyển nhượng đầu tiên của ông, công ty dịch vụ tài chính IDS, đã đem về lợi nhuận. Nhưng sau đó, ông mua lại Shearson Lehman, và không thành công. Shearson ngày càng cần nhiều tiền mặt hơn để chi cho hoạt động của công ty. Khi Shearson ngốn mất 4 tỉ đô la, Robinson đã liên lạc với Buffett – người đã đồng ý mua số cổ phiếu ưu đãi với giá 300 triệu đô la. Cho tới khi công ty tìm lại được đường lối hoạt động đúng đắn, ông cũng không hề quan tâm tới việc mua cổ phiếu thường.

Năm 1992, Robinson đột ngột từ chức và Harvey Golub lên thay thế. Ông đặt ra cho bản thân mình nhiệm vụ trước nhất là phải củng cố nhận dạng nhãn hiệu của công chúng. Đáng chú ý là một giọng điệu quen thuộc với Buffett, ông bắt đầu sử dụng các thuật ngữ như Nhượng quyền kinh doanh hay Giá trị nhãn hiệu -Brand value để mô tả American Express Card – American Express. Hai năm sau, Golub bắt đầu thanh lý các tài sản hư hỏng của công ty và khôi phục khả năng lợi nhuận và lợi nhuận trên vốn cổ phần cao. Một trong những hành động đầu tiên của ông là xoá bỏ hoàn toàn Shearson Lehman với nhu cầu vốn ồ ạt của nó.

American Express nhanh chóng cho thấy những dấu hiệu về khả năng lợi nhuận của nó. Các nguồn lực của công ty chắc chắn đứng đằng sau mục tiêu xây dựng American Express thành một “nhãn hiệu dịch vụ được kính trọng nhất thế giới” của Golub, và mỗi thông tin từ công ty truyền đi đều nhấn mạnh giá trị nhượng quyền kinh doanh của tên gọi “American Express”.

Tiếp theo Golub đặt ra các mục tiêu tài chính cho công ty: phải tăng lợi nhuận trên một cổ phiếu từ 12 đến 15% mỗi năm và từ 18 đến 20% lợi nhuận trên vốn. Trước đó khá lâu, công ty một lần nữa lại tạo tiền mặt dư thừa và có nhiều vốn hơn, nhiều cổ phiếu hơn nhu cầu. Sau đó, vào tháng Chín năm 1994, công ty thông báo rằng, do các điều kiện thị trường, công ty có kế hoạch mua lại 20 triệu cổ phiếu từ số chứng khoán thường. Đó là một điệu nhạc du dương rót vào tai Buffett.

Mùa hè năm đó, Buffett chuyển đổi các cổ phần của Berkshire từ chứng khoán ưu đãi thành chứng khoán phổ thông. Ngay sau đó, ông bắt đầu mua lại thậm chí nhiều hơn. Cuối năm đó, Berkshire sở hữu 27 triệu đô la cổ phiếu. Tháng Ba năm 1995, Buffett đã thêm vào danh mục của ông 20 triệu cổ phiếu nữa, Năm 1997, ông tiếp tục thêm vào 49,5 triệu nữa; và đến năm 1998 là 50,5 triệu. Cuối năm 2003, Berkshire sở hữu hơn 151 triệu cổ phiếu của American Express, chiếm gần 12% công ty, với giá thị trường là hơn 7 tỉ đô la gấp bảy lần số tiền Buffett bỏ ra để mua chúng.