Chuyên mục: Warren Buffett

Học đầu tư chứng khoán theo Warren Buffett

Vấn đề quản lý và sự thờ ơ của Giám đốc

Buffett cho rằng một phần của vấn đề là do xu hướng đáng xấu hổ của Ban Giám đốc là chỉ biết ký tên đóng dấu vào bất cứ thứ gì các CEO yêu cầu. Đó là vấn đề tính độc lập và sự can đảm – mức độ mà theo đó các giám đốc sẵn sàng thực hiện đúng trách nhiệm được uỷ thác trước nguy cơ làm mất lòng các CEO. Sự sẵn sàng này, hay thiếu nó, đang có mặt ở các ban quản lý trên toàn quốc.
Buffett viết: “Tính độc lập thực sự, có nghĩa là sự sẵn sàng thách thức một vị CEO đầy quyền lực khi ông ta có hành vi sai trái, dại dột – là một nét tiêu biểu cực kỳ có giá trị của một vị giám đốc”. Chúng ta có thể tìm thấy phẩm chất cao quý này ở những CEO mà lợi ích của họ phù hợp với lợi ích của các cổ đông. Buffett đã minh hoạ vị thế của ông bằng cách mô tả điều ông tìm kiếm ở các thành viên trong Hội đồng Quản trị của Berkshire Hathaway – “rất ngay thẳng, có hiểu biết kinh doanh, hướng tới cổ đông, và quan tâm thực sự tới công ty”. Liệu chúng ta có thể xác định giá trị của ban quản lý hay không?
Buffett sẽ là người đầu tiên thừa nhận rằng để đánh giá nhà quản lý theo ba chiều – sự hợp lý, lòng ngay thẳng, và lối suy nghĩ độc lập – quả thực là khó khăn hơn đánh giá tình hình tài chính, bởi một lẽ đơn giản là con người thường phức tạp hơn những con số.
Thực ra, nhiều nhà phân tích tin rằng bởi vì đánh giá hoạt động của con người là không rõ ràng và thiếu chính xác, nên chúng ta hoàn toàn không thể đánh giá được mức độ đáng tin cậy của ban quản lý, và vì vậy bài toán trở thành vô nghĩa. Họ dường như gợi ý rằng không có các con số, sẽ chẳng có gì để đo đạc, đánh giá cả. Những người khác lại cho rằng giá trị của ban quản lý được thể hiện đầy đủ trong những con số thống kê kết quả hoạt động của công ty, bao gồm doanh thu, lợi nhuận biên, lợi nhuận trên vốn cổ phần, và chỉ cần dựa vào các chỉ tiêu đánh giá này mà thôi.
Cả hai ý kiến đều có căn cứ, nhưng không ý kiến nào đủ mạnh để vượt qua lập luận ban đầu. Lý do dành thời gian để đánh giá ban quan lý là giúp cho bạn biết những dấu hiệu cảnh báo ban đầu về kết quả tài chính sau cùng. Nếu bạn xem xét kỹ lưỡng từng từ ngữ và hành động của một ban quản lý, bạn sẽ tìm thấy đầu mối giúp bạn đánh giá giá trị công việc của họ một thời gian khá dài trước khi nó được thể hiện trong báo cáo tài chính của công ty hoặc trên những trang chứng khoán trong tờ nhật báo. Làm như vậy sẽ tìm ra được một số thông tin hữu ích, và chừng đó đủ để ngăn cản sự mềm yếu của con tim hay sự lười biếng. Như vậy, họ mất còn bạn được.
Làm thế nào để bắt tay vào thu thập nguồn thông tin cần thiết? Buffett đưa ra một vài lời khuyên. Ông gợi ý khi tổng kết những báo cáo thường niên từ một số năm trước đây, nên đặc biệt chú ý tới điều mà ban quản lý nói và sau đó là về các chiến lược cho tương lai. Sau đó, so sánh những kế hoạch đó với kết quả đạt được ngày hôm nay: Chúng được thực hiện đầy đủ như thế nào? Cũng so sánh những chiến lược đề ra cách đây vài năm với những chiến lược và ý kiến của năm nay: Lối suy nghĩ thay đổi như thế nào? Buffett cũng gợi ý rằng cũng rất hữu ích khi so sánh các báo cáo thường niên của công ty bạn quan tâm với những bản báo cáo của những công ty tương tự trong cùng ngành. Không phải lúc nào cũng dễ dàng tìm ra những điểm giống nhau tuyệt đối, nhưng thậm chí sự so sánh kết quả liên quan cũng giúp bạn hiểu biết sâu sắc hơn.
Tôi đọc các báo cáo thường niên của công ty tôi đang quan tâm và đọc cả báo cáo thường niên của các đối thủ cạnh tranh. Đó chính là điểm cốt lõi của vấn đề.

Chúng tôi muốn làm cho mọi thứ luôn đơn giản, vì vậy vị Chủ tịch Hội đồng Quản trị có thể ngồi đâu đó và đọc báo cáo thường niên.

Hãy mở rộng phạm vi hiểu biết của bạn. Hãy cảnh giác trước những bài đăng trên báo và tạp chí tài chính về công ty mà bạn đang quan tâm và về cả ngành nói chung. Hãy đọc điều mà những CEO của công ty nói ra và điều mà những người khác nói về họ. Nếu bạn thấy gần đây vị Chủ tịch Hội đồng Quản trị có một bài phát biểu hoặc diễn thuyết, hãy xin một bản copy từ phòng quan hệ đầu tư và nghiên cứu nó thật cẩn thận. Hãy truy cập trang web của công ty để tìm kiếm nguồn thông tin cập nhật nhất. Trong mỗi cách bạn có thể nghĩ ra, hãy làm tăng tầm quan sát của bạn. Bạn càng phát triển thói quen luôn cảnh giác trước thông tin, thì quá trình này ngày càng trở nên dễ dàng hơn.
Ở điểm này, dù có thể làm bạn không vui, nhưng cần phải nói thẳng là rất có thể những tài liệu bạn nghiên cứu chứa đầy những con số được thổi phồng, những bản thống kê nửa sự thật, và những điều chủ ý gây hoang mang có chủ tâm. Tất cả chúng ta đều biết tên tuổi của những công ty đã bị buộc tội về hành vi này, có một danh mục những công ty Mỹ chuyên lừa đảo, và một vài trong số những nhà lãnh đạo của các công ty này đã “dành rất nhiều thời gian trong tù” để suy nghĩ về hành vi của mình. Đôi khi những vụ lừa bịp quá tinh vi đến mức thậm chí những kế toán toà án cũng bị lừa. Vậy bạn – một nhà đầu tư không có kiến thức chuyên ngành – làm cách nào để hiểu thấu được những gì bạn đang thấy?
Đáng tiếc câu trả lời là: Bạn không thể. Bạn có thể học cách đọc các báo cáo thường niên và các bản cân đối kế toán, bạn nên làm như vậy, nhưng nếu chúng được xây dựng từ những thủ đoạn lừa đảo trắng trợn, thì bạn khó có thể phát hiện ra được.

Những vấn đề kế toán phi pháp và tài chính mờ ám

Bất kỳ ai đang đọc một tờ nhật báo trong quý hai của năm 2001 đều không thể không nhận ra làn sóng những việc làm sai trái ở các công ty đang ngày càng gia tăng. Trong nhiều tháng, tất cả chúng ta đều chứng kiến những vụ bê bối nối tiếp nhau, liên quan tới một số những tên tuổi nổi tiếng nhất trong ngành công nghiệp Mỹ. Tất cả những vụ việc này đều được gộp chung lại dưới một thuật ngữ chung là “scandal kế toán” bởi vì những hành vi phạm pháp tập trung vào những thủ đoạn kế toán và bởi vì những kiểm toán viên bên ngoài có nhiệm vụ thẩm tra lại các báo cáo kế toán lại chính là người trong cuộc.
Tất nhiên, trong dài hạn, vấn đề chờ đợi ban quản lý vượt qua những vấn đề xảy ra với hoạt động của những thủ đoạn kế toán.
Tất nhiên, rộng lớn hơn vấn đề kế toán, đó là vấn đề hám lợi, nói dối và hành động tội ác. Những báo cáo kế toán chính là thứ rất tốt để nhìn ra những dấu hiệu của vấn đề. Trong thư gửi cổ đông năm 2002, Buffett đã cảnh báo các nhà đầu tư phải cẩn thận khi đọc các bản báo cáo thường niên. Ông viết: “Khi bạn là một độc giả của một báo cáo tài chính trong những năm gần đây, bạn sẽ thấy một loạt các báo cáo chi tiết lợi nhuận ‘chiếu lệ’ – xếp thành bảng trong đó các nhà quản lý lúc nào cũng chỉ ra ‘phần lợi nhuận’ vượt quá xa so với những con số được kiểm toán. Trong cách trình bày này, CEO nói với các cổ
đông rằng ‘đừng tính cái này, đừng tính cái kia – chỉ tính cái gì làm tăng lợi nhuận mà thôi’. Thường thì, năm nào cũng sẽ có một thông điệp kiểu ‘hãy quên tất cả những điều tồi tệ này đi’ được đưa ra mà ban quản lý không hề cảm thấy xấu hổ”.
Buffett thẳng thắn thể hiện sự phẫn nộ trước những vụ scandal. “Điều sai trái rành rành xảy ra đã phụ niềm tin của hàng triệu cổ đông”. Ông cho rằng những ngày tháng “sôi nổi” hồi đầu những năm 1990, giai đoạn “làm giàu nhanh chóng” mà ông gọi là Cuộc bùng nổ Bong bóng, là do sự suy đồi đạo đức doanh nghiệp. Ông nói: “Khi giá chứng khoán tăng, thì những quy tắc hành động của các nhà quản lý đi xuống. Đến cuối những năm 1990, các CEO đang đi trên đường cao tốc đã không bị tắc đường. Có quá nhiều người hành động thật tệ hại, những con số gian lận và kéo theo những hành động ghê tởm để có được kết quả kinh doanh tầm thường”. Trong nhiều trường hợp, giám đốc của những công ty này, những người có nhiệm vụ gìn giữ lợi tức cổ đông, đã thất bại thảm hại.

Warren Buffett nói về Quản lý, Đạo đức, và Sự hợp lý – P2

Quyền chọn Chứng khoán
Cùng với những khoản tiền lương cao ngất trời, theo lẽ thường nhà quản lý cấp cao của các công ty thương mại công còn nhận được quyền chọn chứng khoán giá cố định, thường ràng buộc với doanh thu của công ty, nhưng rất hiếm khi ràng buộc với tình hình công việc thực tế của nhà quản lý.
Điều này trái với ý muốn của Buffett. Ông nói, khi quyền chọn chứng khoán được chuyển giao rất cẩu thả, các nhà quản lý với khả năng làm việc dưới mức trung bình sẽ được nhận ở mức “hào phóng” không kém gì những nhà quản lý có khả năng làm việc tuyệt vời. Theo lối suy nghĩ của Buffett, thậm chí nếu nhóm của bạn đạt danh hiệu dẫn đầu, bạn cũng không thể đánh đồng người đáng được trả 350 đô la và người chỉ đáng nhận 150 đô la trong nhóm.
Tại Berkshire, Buffett sử dụng một hệ thống lương thưởng cho các nhà quản lý theo năng lực làm việc. Phần thưởng không lệ thuộc vào quy mô của công ty, tuổi tác của các cá nhân, hay tổng lợi nhuận của Berkshire. Buffett tin rằng cá nhân làm việc tốt nên được nhận phần thưởng cho dù giá chứng khoán của Berkshire tăng hay giảm. Thay vào đó, các nhà quản lý cao cấp lại được thưởng dựa trên thành công của họ trong việc thực hiện tốt các mục tiêu trong phạm vi trách nhiệm của họ. Một số nhà quản lý được thưởng vì doanh thu tăng, những người khác lại được thưởng vì làm giảm chi phí hay giảm bớt chi phí vốn. Cuối năm, Buffett không phân phát quyền chọn chứng khoán mà ông viết séc. Một số séc có giá trị khá lớn. Các nhà quản lý có thể sử dụng tiền mặt nếu họ thích. Nhiều người sử dụng số tiền thưởng này để mua chứng khoán của Berkshire.
Thậm chí khi quyền chọn chứng khoán được coi là một phần hợp pháp trong số tiền thưởng, thì Buffett vẫn cảnh báo chúng ta hãy quan sát xem chúng chiếm bao nhiêu phần trăm trong bảng cân đối kế toán của một công ty. Ông tin rằng chúng nên được xem là một chi phí vì tác động của chúng tới phần lợi nhuận được báo cáo là rõ ràng. Điều này dường như quá rõ ràng đến nỗi không có gì phải bàn cãi nữa cả. Đáng buồn là, không phải tất cả các công ty đều có cách nhìn nhận này.
Theo suy nghĩ của Buffett, đây là một khía cạnh khác của sự sẵn sàng chấp nhận số tiền trả vượt mức dự tính. Trong thư gửi cổ đông năm 2003, ông viết: “Khi các nhà quản lý CEO hay các đại diện của họ gặp gỡ các uỷ ban bồi thường, thường sẽ có một bên – bên quan chức cấp cao – quan tâm chú ý nhiều hơn hẳn bên kia về việc chốt hạ của bản thoả thuận. Ví dụ, một CEO sẽ luôn nhận được phần chênh lệch giữa nhận quyền chọn cho 100 nghìn cổ phiếu hay cho 500 nghìn cổ phiếu. Tuy vậy, đối với một uỷ ban được mời, phần chênh lệch dường như không quan trọng”.
Cảm xúc mạnh mẽ của Buffett về chủ đề này có thể nhận thấy trong phản ứng với thông báo của Amazon hồi tháng Tư năm 2003 rằng công ty sẽ bắt đầu tính chi phí quyền chứng khoán. Buffett đã viết cho CEO Jeff Bezos rằng công ty đã “rất dũng cảm” và quyết định của ông sẽ được “thừa nhận và ghi nhớ”. Một tuần sau, Buffett đã mua 98,3 triệu đô la trái phiếu có mức sinh lợi cao của Amazon.

Warren Buffett nói về Quản lý, Đạo đức, và Sự hợp lý

Trong tất cả các cuộc tiếp xúc của ông với cổ đông Berkshire, và thực sự với thế giới nói chung, Buffett luôn luôn nhấn mạnh quá trình tìm kiếm những nhà quản lý thật thà và ngay thẳng. Ông tin rằng điều đó không chỉ là những giá trị liên kết trên thế giới ngày nay, mà còn là vấn đề nòng cốt quyết định sự thành công cuối cùng của một công ty và khả năng lợi nhuận trong dài hạn.
Thù lao điều hành, quyền chọn chứng khoán, sự độc lập của giám đốc, thủ đoạn kế toán – những vấn đề này đã chạm vào nỗi niềm của Buffett, và ông không ngần ngại cho chúng ta biết ông cảm thấy như thế nào.
CEO hám lợi và tính cưỡng chế tổ chức
Trong thư gửi cổ đông năm 2001, Buffett viết: “Charlie và tôi lấy làm phẫn nộ với tình trạng phổ biến trong vài năm trước đây, cổ đông bị thua lỗ hàng tỉ đô la còn các CEO, những người sáng lập và những vị quan chức chóp bu khác – cha đẻ của những thảm hoạ này – lại đang hối thúc các nhà đầu tư mua cổ phiếu trong khi cùng lúc đó bán tống bán tháo số cổ phiếu của chính họ, đôi khi còn sử dụng nhiều thủ đoạn để che giấu hành động của họ. Những vị lãnh đạo này coi các cổ đông là những kẻ khờ khạo, chứ không phải là đối tác…
Những bê bối kế toán đã gióng lên hồi chuông cảnh báo trên toàn nước Mỹ. Các cổ đông bắt đầu đặt câu hỏi và băn khoăn không biết các công ty của họ có quản lý các vấn đề trung thực và minh bạch hay không. Tất cả chúng ta ngày càng nhận thức rõ ràng hơn rằng trong hệ thống quản lý thường tồn tại nhiều vấn đề bất cập: Các CEO nhận được khoản lương thưởng khổng lồ trong khi vẫn sử dụng tiền của công ty để mua máy bay riêng và phung phí vào những bữa tiệc linh đình, và các giám đốc thì thường ký tên đóng dấu vào bất kỳ quyết định quản lý nào được quyết định sẽ thực hiện. Dường như không có một CEO nào có thể cưỡng lại cám dỗ có được những khoản lương không lồ và phong cách sống phung phí mà những CEO khác đang được hưởng. Đó chính là điểm tiêu cực nhất của tính cưỡng chế tổ chức.
Theo Buffett, tình hình vẫn chưa có chuyển biến gì đáng kể. Trong thư gửi
cổ đông năm 2003, ông cảnh báo, “bệnh hám lợi” dường như không hề suy giảm. Ông viết: “Tình trạng phung phí của các CEO tăng mạnh hơn trong những năm 1990. Để phán xét xem liệu Corporate America có nghiêm túc cải tổ chính bản thân họ hay không, việc thanh toán của CEO vẫn là thử nghiệm. Cho tới ngày hôm nay, các kết quả thu được vẫn không đáng khích lệ”.

Hướng dẫn đầu tư – nguyên lý quản lý – P4

Công ty Washington Post
Buffett nói với chúng tôi rằng thậm chí báo chí hạng ba cũng có thể thu được lợi nhuận đáng kể. Do thị trường không yêu cầu những tiêu chuẩn cao dành cho một tờ báo, nên đó chính là trách nhiệm ban quản lý phải tự đặt ra. Đó chính là những tiêu chuẩn cao và những khả năng của ban quản lý có thể làm khác biệt phần lợi nhuận của công ty khi so sánh với những nhóm công ty cùng ngành. Năm 1973, nếu Buffett đầu tư vào Gannett, Knight – Ridder, New York Times Mirror số tiền 10 triệu đô la mà ông đã đầu tư vào Washington Post thì lợi nhuận đầu tư của ông sẽ trên mức trung bình, phản ánh tính kinh tế đặc biệt của ngành kinh doanh báo chí trong suốt giai đoạn này. Nhưng số tiền 200 -300 triệu đô la dư thừa theo giá trị thị trường mà Washington Post thu được đã qua mặt các công ty cùng ngành. Buffett nói: “Trong phạm vi rất rộng, điều này xuất từ bản chất vượt trội của những quyết định quản lý do Kay (Katherine Graham) đưa ra khi so sánh với những quyết định do các nhà quản lý của những công ty truyền thông khác”.

Katherine Graham có khả năng mua số lượng lớn chứng khoán của Washington Post với mức giá hời. Buffett nói, Kay cũng rất dũng cảm đương đầu với công đoàn lao động, giảm thiểu chi phí, và tăng giá trị kinh doanh báo chí. Các cổ đông của Washington Post thật may mắn vì Katherine Graham đã đặt công ty vào vị trí quá thuận lợi.
Việc đánh giá con người cần dựa trên ba phẩm chất: liêm chính, thông minh và nghị lực. Và nếu bạn không có phẩm chất thứ nhất thì hai phẩm chất còn lại sẽ đẩy bạn xuống vực sâu.

Hướng dẫn đầu tư – nguyên lý quản lý – P3

Clayton Homes
Trong một ngành công nghiệp đang bị bóp nghẹt bởi chính những vấn đề do nó tự tạo ra, thì Clayton nổi bật lên với đội ngũ quản lý hùng mạnh và mô hình kinh doanh thông minh.
Hiện tại, những ngôi nhà di động được sản xuất chiếm 15% trong tổng số nhà ở Mỹ. Xét trên nhiều khía cạnh, hình ảnh tiêu cực theo lịch sử của chúng đang biến mất. Những ngôi nhà di động ngày càng giống với những ngôi nhà được xây dựng kiên cố về kích cỡ và quy mô, chất lượng xây dựng được luôn được cải thiện, chúng đang cạnh tranh với những ngôi nhà cho thuê, chúng có những lợi thế về thuế mà theo đó người chủ ngôi nhà không phải sở hữu phần tài sản cơ bản, và việc thế chấp hiện tại đang được những công ty thế chấp lớn khác và các văn phòng chính phủ như Fannie Mae hỗ trợ.
Tuy vậy, do những ngôi nhà này rẻ hơn đáng kể so với nhà xây kiên cố (mức giá trung bình năm 2002 là 48 800 đô la so với 164 217 đô la), thị trường chính vẫn là những khách hàng của dòng sản phẩm giá thấp. Trong năm 2002, hơn 22 triệu người dân Mỹ sinh sống trong các ngôi nhà di động, với mức thu nhập gia đình trung bình là 26.900 đô la.
Trong những năm 1990, nhiều nhà sản xuất bị dính dáng tới một vụ việc rắc rối hai chiều do họ tự đặt ra cho mình, và rất nhiều người trong số họ thất bại. Một phần của rắc rối hai chiều này đó là sự chấp nhận ngày càng gia tăng và phổ biến của những ngôi nhà kiểu này, khiến nhiều công ty trong ngành đẩy mạnh việc quá mở rộng quy mô công ty. Nhân tố siết chặt khác đó là lòng tham.
Những ngôi nhà được bán thông qua những người bán lẻ, hoặc là những nhà buôn độc lập đại diện cho một số nhà sản xuất hoặc là những đại lý của riêng công ty. Chính tại đó, trong cùng một lô hàng, người mua thường thấy hoạt động huy động vốn, thường là một chi nhánh của nhà sản xuất/ người bán lẻ. Bán ồ ạt tạo ra lợi nhuận tức thì cho các nhà bản lẻ và phần hoa hồng khổng lồ cho các nhà môi giới. Nó cũng tạo ra những vấn đề kinh tế khổng lồ trong phạm vi xa hơn. Một thực tế đáng buồn là rất nhiều ngôi nhà được bán cho những người đang trong tình trạng kinh tế bấp bênh, và tỉ lệ tái sở hữu cao, làm giảm nhu cầu nhà mới. Khi tỉ lệ thất nghiệp tăng trong vài năm trước đây, thì các khoản vay phạm pháp cũng tăng. Nhân tố cung quá mức hàng tồn kho từ những năm 1990, và thời gian kinh tế thắt chặt mà đã thu hẹp chi tiêu trên mọi lĩnh vực, và làm tăng thêm tình trạng ảm đạm trong toàn ngành.
Phần lớn vấn đề đều bắt nguồn từ những khoản nợ xấu đang quá phổ biến trong ngành kinh doanh nhà. Vậy tại sao tất cả họ đều làm như vậy? Bởi vì mỗi công ty lo sợ bị mất thị phần nếu làm khác. Nói tóm lại, đó là tai hoạ của tính cưỡng chế tổ chức. Clayton không hoàn toàn thoát khỏi, nhưng cũng đã tránh được hầu hết những sai lầm nghiêm trọng.
Điều quan trọng nhất là, Clayton trả thù lao cho người bán hàng theo một cách khác. Phần hoa hồng của người bán hàng và người quản lý được tính toán không chỉ theo số lượng những ngôi nhà được bán mà còn dựa trên chất lượng và quá trình hoạt động của khoản vay. Đội ngũ nhân viên bán hàng chia sẻ gánh nặng tài chính khi khoản nợ không phát huy được tác dụng, và chia sẻ doanh thu khi các khoản vay hoạt động tốt. Ví dụ, một quản lý bán hàng đang phải giải quyết việc bán hàng và thu được tiền của một ngôi nhà di động trị giá 24 nghìn đô la. Nếu khách hàng không thể thanh toán, Clayton sẽ bị mất 25 nghìn đô la, và người quản lý phải chịu trách nhiệm đối với một nửa số tiền thua lỗ đó. Nhưng nếu khoản nợ hoạt động tốt, người quản lý cũng sẽ được một nửa số đó. Điều đó đẩy gánh nặng tránh các khoản nợ xấu lên vai nhân viên bán hàng.
Phương pháp thanh toán: Năm 2002, “chỉ có 2,3% số chủ sở hữu nhà với khoản thế chấp của Clayton là những kẻ phạm pháp 30 ngày”. Con số đó xấp xỉ một nửa tỉ lệ phạm pháp trong ngành. Cuối những năm 1990, khi hơn 80 nhà máy và bốn nghìn người bán lẻ bị phá sản, Clayton chỉ phải đóng cửa 31 cửa hàng bán lẻ và không hề đóng cửa nhà máy nào cả. Đến năm 2003, khi Buffett tham gia, Clayton đã thoát khỏi tình trạng suy thoái trong nền kinh tế nói chung và ngành công nghiệp sản xuất nhà di động nói riêng với vị thế mạnh mẽ hơn và tốt đẹp hơn bất kỳ đối thủ cạnh tranh nào.
Warren Buffett đã mua Clayton Homes bởi vì ông thấy Jim Clayton là một người năng động, chăm chỉ, thông minh và có kỹ năng quản lý tốt. Clayton không chỉ thể hiện một lần mà là tới hai lần rằng ông có thể vượt qua tình trạng suy thoái trong ngành bằng cách xây dựng mô hình kinh doanh của ông để tránh được tính cưỡng chế tổ chức cực kỳ tai hại.

Hướng dẫn đầu tư – nguyên lý quản lý – P2

Công ty Coca-Cola
Khi Goizueta tiếp quản Coca-Cola, một trong những hành động đầu tiên của ông đó là loại bỏ những ngành kinh doanh không liên quan mà vị CEO tiền nhiệm đã phát triển và hướng công ty trở lại với ngành kinh doanh cơ bản của nó là bán nước ngọt. Đó là một minh chứng rõ ràng về khả năng chống lại tính cưỡng chế tổ chức của Coca-Cola.
Không thể phủ nhận rằng cắt giảm quy mô của công ty thành một ngành kinh doanh đơn lẻ thực sự là một sự thay đổi táo bạo. Điều khiến cho chiến lược của Goizueta thậm chí còn đáng chú ý hơn đó là lòng sẵn sàng thực hiện hành động này của ông vào một thời điểm mà những công ty khác trong ngành đang hành động theo hướng ngược lại hoàn toàn. Một số công ty đồ uống hàng đầu đang đầu tư lợi nhuận của họ vào những ngành kinh doanh không liên quan khác. Anheuser – Busch sử dụng lợi nhuận từ ngành kinh doanh bia để đầu tư vào công viên giải trí. Brown Forman, nhà sản xuất và phân phối rượu và rượu mạnh, đầu tư lợi nhuận vào các ngành kinh doanh đồ sứ, pha lê, bạc và hành lý, tất cả những ngành kinh doanh này đều có mức sinh lợi thấp hơn. Công ty TNHH Seagram, một công ty rượu và các sản phẩm rượu mạnh toàn cầu đã mua Universal Studios. Đối thủ cạnh tranh đồ uống chính của Coca-Cola Pepsi cũng mua các ngành kinh doanh đồ ăn nhanh (Frito-Lay) và các nhà hàng bao gồm cả Taco Bell, Kentucky Fried Chicken, và Pizza Hut.

Không chỉ hành động của Goizueta tập trung sự chú ý của công ty vào sản phẩm lớn nhất và quan trọng nhất, mà nó còn có tác dụng tái phân bổ nguồn lực của công ty vào ngành kinh doanh có khả năng lợi nhuận nhất. Kể từ khi sự chuyển hướng kinh tế tập trung vào kinh doanh nước giải khát gây ảnh hưởng sâu sắc tới sự chuyển hướng kinh tế của các ngành kinh doanh khác, giờ đây công ty tái đầu tư lợi nhuận vào ngành kinh doanh có mức thu lợi cao nhất.