Chuyên mục: Không phân loại

Hướng dẫn đầu tư – Nguyên lý tài chính – P2

Mặc dù để sử dụng tỉ lệ này, chúng ta cần thực hiện một số điều chỉnh. Trước hết, tất cả các chứng khoán có thể chào bán nên được định giá theo chi phí, không phải là theo giá trị thị trường, bởi vì các giá trị trên thị trường chứng khoán nói chung gây ảnh hưởng lớn tới tỉ suất lợi nhuận trên vốn cổ phần của cổ đông đối với một công ty nói riêng. Ví dụ như, nếu thị trường chứng khoán tăng mạnh trong một năm, do vậy làm tăng giá trị ròng của một công ty, thì kết quả hoạt động thực sự nổi trội sẽ bị giảm bớt đi khi so sánh với mẫu số lớn hơn. Ngược lại, giảm giá sẽ làm giảm vốn cổ phần của cổ đông, có nghĩa là kết quả hoạt động tầm thường sẽ được thể hiện tốt hơn nhiều so với thực tế.
Thứ hai, chúng ta phải kiểm soát ảnh hưởng của những nhân tố bất thường có thể có trong tử số của tỉ lệ này. Buffett loại trừ tất cả phần lãi và lỗ trên vốn, cũng như bất kỳ nhân tố bất thường nào làm tăng hoặc làm giảm lợi nhuận hoạt động. Ông đang tìm cách tách biệt kết quả hoạt động thường niên cụ thể của một công ty. Ông muốn biết ban quản lý đã hoàn thành nhiệm vụ tạo mức lợi nhuận từ hoạt động của một công ty với nguồn vốn ban đầu tốt như thế nào. Ông nói, đó là biện pháp đánh giá kết quả kinh tế của ban quản lý tốt nhất.
Hơn thế nữa, Buffett tin tưởng rằng một công ty nên đạt được lợi nhuận trên vốn cổ phần tốt trong khi không vay nợ hoặc vay nợ ít. Chúng ta biết rằng nhiều công ty tăng lợi nhuận trên vốn cổ phần bằng cách tăng tỉ lệ nợ trên vốn cổ phần. Buffett đã nhận ra điều này, nhưng ý tưởng tăng lợi nhuận trên vốn cổ phần của Berkshire Hathaway chỉ đơn giản bằng cách tăng thêm nợ không gây ấn tượng cho ông. Ông nói: “Các quyết định kinh doanh hay đầu tư tốt sẽ cho những kết quả kinh tế tương đối hài lòng mà không cần sự hỗ trợ từ tài sản vay nợ”. Hơn thế nữa, những công ty có mức vay nợ cao sẽ rất dễ đi tới phá sản trong thời kỳ suy thoái kinh tế.
Buffett không đưa ra bất kỳ gợi ý nào về mức nợ bao nhiêu là hợp lý hay bất hợp lý đối với một công ty. Những công ty khác nhau, phụ thuộc vào lưu lượng tiền mặt của mình, sẽ quản lý những mức nợ khác nhau. Điều Buffett nói cho chúng ta biết đó là một công ty phát triển tốt sẽ thu được lợi nhuận trên vốn cổ phần cao mà không cần sự hỗ trợ từ tài sản vay nợ. Các nhà đầu tư nên cảnh giác trước những công ty tạo lợi nhuận trên vốn cổ phần tốt chỉ bằng cách vay nợ.

Nguyên lý quản lý (P4)

Năm 2002, Berkshire mua phần còn lại của Shaw. Tới năm 2003, Shaw thu về 4,6 tỉ đô la doanh thu bán hàng. Ngoại trừ các công ty bảo hiểm bảo hiểm ra thì đây là công ty lớn nhất của Berkshire.

warrenbuffett

Theo lối suy nghĩ của Buffett, quyết định làm gì với lợi nhuận của công ty – tái đầu tư, hay trả lại tiền cho các cổ đông – là một bài toán logic và hợp lý. “Sự hợp lý là phẩm chất tạo ra sự khác biệt trong phong cách của ông và trong cách ông điều hành Berkshire – và là phẩm chất ông thường thấy thiếu ở các công ty khác”, Carol Loomis viết trong tạp chí Fortune.

Vấn đề này thường trở nên quan trọng khi một công ty đạt tới một mức độ chín muồi nhất định, khi tỉ lệ tăng trưởng chậm lại và bắt đầu tạo ra nhiều tiền mặt hơn nhu cầu phát triển và chi phí điều hành. Ở điểm này, một câu hỏi được đặt ra: “Nên phân bổ số lợi nhuận này như thế nào?”.

Nếu số tiền mặt dư thừa tái đầu tư có thể tạo ra lợi nhuận trên vốn đầu tư trên mức trung bình, tức là lợi nhuận cao hơn chi phí vốn – thì công ty nên giữ lại toàn bộ lợi nhuận và tái đầu tư. Đó là đường lối hợp lý duy nhất. Giữ lại lợi nhuận để tái đầu tư ở mức thấp hơn chi phí vốn trung bình là hoàn toàn bất hợp lý. Cách làm này cũng khá phổ biến.

Một công ty có lợi nhuận đầu tư trung bình, hoặc dưới mức trung bình nhưng tạo ra tiền mặt vượt nhu cầu có ba sự lựa chọn: (1) Công ty có thể phớt lờ vấn đề và tiếp tục tái đầu tư ở tỉ lệ dưới mức trung bình, (2) Công ty có thể mua sự tăng trưởng, hoặc (3) Công ty có thể trả lại tiền mặt cho các cổ đông. Quyết định làm theo lựa chọn nào là điều Buffett rất chú trọng tới cách quản lý. Đây chính là lúc các nhà quản lý hành động hợp lý hay không hợp lý.

Nói chung, có những nhà quản lý vẫn tiếp tục tái đầu tư bất chấp lợi nhuận dưới mức trung bình vì họ tin rằng tình huống đó chỉ là tạm thời. Họ cho rằng, với năng lực quản lý của mình, họ sẽ cải thiện được khả năng lợi nhuận của công ty. Các cổ đông bị thôi miên trước dự báo về khả năng cải thiện tình hình của ban quản lý.

Nếu một công ty tiếp tục phớt lờ vấn đề này, tiền mặt sẽ ngày trở thành một nguồn vốn nhàn rỗi hơn và giá cổ phiếu sẽ suy giảm. Một công ty với lợi nhuận kinh tế nghèo nàn, quá nhiều tiền mặt, và giá cổ phiếu thấp sẽ thu hút những kẻ đột kích tập thể, thường là sự khởi đầu cho sự kết thúc nhiệm kỳ của ban quản lý hiện tại. Để bảo vệ bản thân mình, các nhà quản lý cấp cao thường lựa chọn cách thứ hai: Mua sự tăng trưởng thông qua việc mua lại một công ty khác.

Thông báo những kế hoạch mua lại sẽ làm phấn chấn tinh thần các cổ đông và đánh bại mưu đồ mua lại của những công ty khác. Tuy vậy, Buffett lại hoài nghi những công ty cần phải mua sự tăng trưởng. Lý do thứ nhất, công ty đó thường được định giá quá cao. Thứ hai là, một công ty phải hợp nhất và quản lý một ngành kinh doanh mới rất dễ vấp phải những sai lầm tai hại đối với các cổ đông.

NGÀNH KINH DOANH CHÍNH CỦA CHÚNG TÔI LÀ BẢO HIỂM (P3)

Đối với một người lựa chọn chứng khoán theo mùa như Buffett, đó là một phép toán hoàn hảo. Chỉ trong vòng hai năm, ông tăng danh mục chứng khoán và cổ phiếu kết hợp của hai công ty từ 31,9 triệu đô la lên gần 42 triệu đô la.

Cùng thời điểm đó, những công ty bảo hiểm hoạt động tương đối tốt. Chỉ trong vòng một năm, lợi nhuận ròng của Công ty Bồi thường Quốc gia tăng từ 1,6 triệu đô la lên đến 2,2 triệu đô la.

Thành công bước đầu của Buffett trong ngành bảo hiểm đã dẫn đường cho ông mở rộng tập đoàn này. Trong thập kỷ tiếp theo, ông mua thêm ba công ty bảo hiểm nữa. Ông không hề đi chậm lại. Tới năm 2004, Berkshire sở hữu 38 công ty bảo hiểm, bao gồm hai đại gia khổng lồ, Government Employees Insurance Company (GEICO) và General Re, mỗi công ty có rất nhiều chi nhánh.

Công ty bảo hiểm GEICO

Trước hết, Warren Buffett biết đến GEICO từ khi còn là sinh viên tại Columbia vì thầy giáo của ông – Ben Graham – là Tổng Giám đốc. Niềm say mê tri thức của Buffett thể hiện trong câu chuyện của một sinh viên trẻ tuổi tới thăm văn phòng của công ty vào một buổi sáng thứ Bảy và đập cửa thình thịch cho tới khi người gác cửa cho anh ta vào. Sau đó, Buffett mất năm tiếng đồng hồ để có được một buổi đào tạo về ngành kinh doanh bảo hiểm từ một người duy nhất làm việc trong ngày hôm đó: Lorinmer Davidson, nhân viên đầu tư sau này trở thành CEO của công ty. Điều ông học được đã kích thích trí tò mò của ông.

GEICO được thành lập dựa trên hai khái niệm đơn giản nhưng công bằng: Nếu bạn chỉ bảo hiểm những người có hồ sơ tốt bạn sẽ mất ít tiền bồi thường hơn. Nếu bạn bán trực tiếp cho khách hàng, không thông qua các đại lý, bạn sẽ giảm thiểu được tổng chiphí.
Trở về quê hương Omaha và làm việc cho công ty môi giới của cha ông, một chàng trai rất trẻ như Warren Buffett đã viết một bài báo về GEICO cho một tạp chí tài chính. Ông đã viết: “Có lý do để tin rằng tỉ lệ tăng trưởng nằm ở phía trước”. Buffett đầu tư 10.282 đô la vào công ty, rồi năm sau bán đi và thu được 50% lợi nhuận. Tuy nhiên, ông vẫn luôn theo dõi sát sao hoạt động của công ty.

Công ty hợp danh đầu tư TNHH Buffett

Công ty hợp danh đầu tư khởi sự với bảy hội viên trách nhiệm hữu hạn cùng đóng góp được 105000 đô la. Các hội viên TNHH hàng năm nhận được 6% trên vốn đầu tư của họ và 75% doanh lợi vượt mức vừa kể. Còn Buffett người chịu trách nhiệm chung nắm quyền kiểm soát đầu tư ở quỹ hợp danh chỉ nhận được 25% khoản doanh lợi vượt mức này.Hơn 13 năm sau, Buffett tích lũy được khoản tiền bằng số vốn ban đầu nhân với tỷ lệ kép hàng năm 29,5%. Đó không phải là một kết quả dễ đạt được. Mặc dù chỉ số công nghiệp trung bình Dow Jones giảm giá trong năm năm khác nhau của giai đoạn 13 năm đó, công ty hợp danh Buffett vẫn không hề đi xuống. Thực tế, Buffett bắt đầu thành lập công ty với tham vọng vượt qua chỉ số Dow Jones mỗi năm 10 điểm. Và ông đã vượt qua chỉ số này không chỉ là 10 mà là 20 điểm mỗi năm!

moo06_6-copy

Khi uy tín của Buffett tăng lên, nhiều người tới hỏi ông cách quản lý tiền. Trong thời gian điều hành công ty hợp danh này, Buffett đầu tư nắm quyền kiểm soát một số công ty công và tư nhân. Năm 1962, ông bắt đầu mua cổ phiếu của một công ty dệt may đang èo uột là Berkshire Hathaway.

Cùng năm 1962, Buffett chuyển văn phòng công ty hợp danh từ quê nhà ông tới Kiewit Plaza tại Omaha, chính là trụ sở văn phòng cho tới tận ngày hôm nay. Năm tiếp theo, ông có một vụ đầu tư gây choáng váng dư luận.

Một vụ bê bối có liên quan tới một trong những khách hàng làm huỷ hoại danh tiếng của American Express khiến cổ phiếu của hãng rớt giá từ 65 đô la xuống còn 35 đô la chỉ trong vòng một đêm. Buffett đã áp dụng rất tốt bài học của Ben Graham: Khi cổ phiếu của một công ty lớn đang bán dưới mức giá trị thực của nó, hãy hành động thật quyết đoán. Buffett có một quyết định đầy táo bạo: Dùng 40% tổng số tài sản của công ty hợp danh, 13 triệu đô la, để mua cổ phiếu của American Express. Hơn hai năm sau, cổ phiếu đó tăng giá lên gấp ba lần, và các thành viên hợp tác thu được lợi nhuận ròng 20 triệu đô la. Đó là Graham đích thực – Buffett đích thực.

Năm 1965, tài sản của công ty hợp danh đã tăng lên 26 triệu đô la. Bốn năm sau, với lý do thấy thị trường có tính chất đầu cơ cao và những giá trị thực đang ngày càng khan hiếm, Buffett quyết định chấm dứt Công ty hợp danh đầu tư.

Khi công ty hợp danh đầu tư giải thể, các nhà đầu tư hoạt động đều được chia phần đầy đủ. Một vài người trong số đó, theo lời khuyên của Buffett, đã tìm kiếm nhà quản trị tài chính Bill Ruane, người bạn học cũ của ông tại Columbia. Ruane chấp nhận quản lý tài chính cho một số hội viên cũ, và Sequoia Fund được thành lập. Các hội viên khác của Công ty hợp danh kể cả Buffett đầu tư phần lợi nhuận hợp tác của họ vào Berkshire Hathaway. Tại thời điểm đó, phần vốn liếng của Buffett ở công ty hợp danh đầu tư cũ đã tăng lên 25 triệu đô la, và khoản tiền ấy giúp ông đủ sức nắm quyền điều hành Berkshire Hathaway.

Những gì ông làm đã nổi tiếng trong giới đầu tư trên toàn thế giới. Thậm chí những người chỉ với một chút lợi nhuận thoáng qua trên thị trường chứng khoán cũng nhận ra tên của Buffett và biết một vài điều về thành công lẫy lừng của ông. Trong các chương tiếp theo, chúng ta sẽ theo dõi những thăng trầm của Berkshire Hathaway trong 40 năm Buffett điều hành. Có lẽ, quan trọng hơn là chúng ta sẽ nhìn sâu vào bên trong để khám phá đến tận cùng triết lý phán đoán chung mà nhờ nó, ông đã tạo dựng thành công cho mình.

Xem thêm: Chứng quyền warrant là gì?

Warren Buffett khởi nghiệp đầu tư

Warren buffett khoi nghiep

Warren Edward Buffett sinh ngày 30 tháng Tám năm 1930 tại Omaha, Nebraska. Ông nội ông là chủ một cửa hàng tạp hoá (và từng thuê chàng trai trẻ Charlie Munger) còn cha ông là một nhà môi giới chứng khoán địa phương. Từ thời niên thiếu, Warren Buffett đã ham mê những con số đến mức có thể ghi nhớ dễ dàng các kết quả tính toán. Lên tám tuổi, Buffett bắt đầu đọc các tác phẩm viết về thị trường chứng khoán của cha mình. 11 tuổi, Buffett chú ý tìm hiểu bảng niêm yết giá cổ phiếu ở nơi cha ông làm việc.
Những năm tháng thiếu thời của ông đầy sinh động với những cuộc phiêu lưu kinh doanh, và ông thành công đến nỗi ông nói với cha rằng ông muốn bỏ qua ‘’khâu học đại học” để tiến thẳng vào sự nghiệp kinh doanh. Nhưng cha ông đã từ chối.

Buffett tham dự khoá học kinh doanh tại trường Đại học Nebraska, và trong quá trình học, ông đọc một cuốn sách mới về đầu tư của một giáo sư trường Đại học Columbia có tên là Benjamin Graham. Đó chính là cuốn The Intelligent Investor (Nhà đầu tư thông minh). Buffett rất tâm đắc với những ý kiến của Graham, và ông đã dự tuyển vào trường Đại học Columbia để được học tập trực tiếp với giáo sư Graham. Nhớ lại những tháng ngày đó, Bill Ruane, nay là Chủ tịch của Sequoia Fund (Quỹ cây tùng) và là bạn cùng lớp với ông kể rằng đã có một phản ứng hoá học tinh thần xảy ra tức thì giữa Graham và Buffett, và phần còn lại của lớp học là khán giả đầu tiên.

Không lâu sau khi Buffett tốt nghiệp trường Đại học Columbia với tấm bằng cao học kinh tế, Graham đã mời người cựu sinh viên của mình tham gia công ty của ông, Công ty Graham-Newman. Suốt hai năm làm việc ở đây, Buffett thực sự bị lôi cuốn bởi phương pháp đầu tư của người thầy thông thái. (Đọc Chương 2 để biết một cuộc tranh luận đầy đủ về triết lí kinh doanh của Graham).

Năm 1956, Graham – Newman giải thể vì Graham lúc ấy đã 61 tuổi. Ông quyết định nghỉ hưu. Buffett lại quay về Omaha. Với những kiến thức lĩnh hội được từ Graham cùng sự hỗ trợ tài chính của gia đình và bạn bè, cộng với 100 đô la của chính mình, Buffett khai trương Công ty hợp danh đầu tư trách nhiệm hữu hạn. Lúc đó, ông mới 25 tuổi.

Xem thêm: Cách giao dịch chứng khoán

Tại sao các công ty phát hành trái phiếu

Khi các công ty cần tiền, phát hành trái phiếu là một cách để làm điều đó. Một trái phiếu có chức năng như một khoản vay giữa một nhà đầu tư và một công ty. Nhà đầu tư đồng ý cung cấp cho công ty một số tiền cụ thể trong một khoảng thời gian cụ thể để đổi lấy các khoản thanh toán lãi định kỳ theo các khoảng thời gian được chỉ định. Khi khoản vay đến ngày đáo hạn, khoản vay của nhà đầu tư được hoàn trả.

Quyết định phát hành trái phiếu thay vì lựa chọn các phương thức huy động tiền khác có thể được điều khiển bởi nhiều yếu tố. So sánh các tính năng và lợi ích của trái phiếu so với các phương thức huy động tiền mặt phổ biến khác cung cấp một số hiểu biết về lý do tại sao các công ty thường tìm đến phát hành trái phiếu khi họ cần huy động tiền mặt để tài trợ cho các hoạt động của công ty.

tại sao các công ty phát hành trái phiếu

Trái phiếu so với ngân hàng

Vay từ ngân hàng có lẽ là phương pháp xuất hiện đầu tiên đối với nhiều người cần tiền. Điều này dẫn đến câu hỏi, tại sao một công ty sẽ phát hành trái phiếu thay vì chỉ vay từ ngân hàng?

Giống như mọi người, các công ty có thể vay từ ngân hàng, nhưng phát hành trái phiếu thường là một đề xuất hấp dẫn hơn. Lãi suất công ty trả cho nhà đầu tư trái phiếu thường thấp hơn lãi suất vay ngân hàng. Tiền trả lãi làm giảm lợi nhuận của công ty nên giảm thiểu số tiền lãi phải khi vay tiền là một cân nhắc quan trọng. Đó là một trong những lý do mà các công ty lành mạnh dường như không cần tiền thường phát hành trái phiếu khi lãi suất ở mức thấp. Khả năng vay một khoản tiền lớn với lãi suất thấp mang lại cho các tập đoàn khả năng đầu tư vào tăng trưởng, cơ sở hạ tầng và các dự án khác.

Phát hành trái phiếu cũng mang lại cho các công ty sự tự do hoạt động lớn hơn đáng kể khi họ thấy phù hợp bởi vì nó giải phóng họ khỏi những hạn chế thường gắn liền với các khoản vay ngân hàng. Ví dụ, xem xét rằng người cho vay thường yêu cầu các công ty đồng ý với một loạt các hạn chế, chẳng hạn như không phát hành thêm nợ hoặc không thực hiện mua lại cho đến khi khoản vay của họ được hoàn trả đầy đủ.

Những hạn chế như vậy có thể cản trở khả năng kinh doanh của công ty và hạn chế các lựa chọn hoạt động của công ty về việc phát hành trái phiếu cho phép các công ty huy động tiền mà không có sự ràng buộc nào như vậy.

Trái phiếu so với cổ phiếu

Phát hành cổ phiếu, có nghĩa là trao quyền sở hữu theo tỷ lệ trong công ty cho các nhà đầu tư để đổi lấy tiền, là một cách phổ biến để các tập đoàn huy động tiền. Từ góc độ doanh nghiệp, có lẽ tính năng hấp dẫn nhất của phát hành cổ phiếu là tiền được tạo ra từ việc bán cổ phiếu không cần phải trả. Tuy nhiên, có những nhược điểm với việc phát hành cổ phiếu có thể khiến trái phiếu trở thành đề xuất hấp dẫn hơn.

Với trái phiếu, các công ty cần huy động tiền có thể tiếp tục phát hành trái phiếu mới, miễn là họ có thể tìm thấy các nhà đầu tư sẵn sàng  đóng vai trò là người cho vay. Việc phát hành trái phiếu mới không ảnh hưởng đến quyền sở hữu công ty hoặc cách thức hoạt động của công ty. Mặt khác, phát hành cổ phiếu, đưa cổ phiếu chứng khoán bổ sung vào lưu thông, điều đó có nghĩa là thu nhập trong tương lai phải được chia sẻ giữa một nhóm các nhà đầu tư lớn hơn. Điều này có thể dẫn đến giảm thu nhập trên mỗi cổ phần, đặt ít tiền hơn vào túi chủ sở hữu.

EPS cũng là một trong những số liệu mà các nhà đầu tư nhìn vào khi đánh giá sức khỏe của một công ty. Số lượng EPS giảm thường không được xem là một sự phát triển thuận lợi.

Phát hành thêm cổ phiếu cũng có nghĩa là quyền sở hữu hiện đang được trải rộng trên một số lượng lớn nhà đầu tư, điều này thường làm cho mỗi cổ phiếu của chủ sở hữu có giá trị tiền mặt ít hơn. Vì các nhà đầu tư mua cổ phiếu để kiếm tiền, làm loãng giá trị khoảng đầu tư của họ không phải là kết quả thuận lợi. Bằng cách phát hành trái phiếu, các công ty có thể tránh kết quả này.

Xem thêm: Cách đầu tư cổ phiếu

Thông tin thêm về trái phiếu

Phát hành trái phiếu cho phép các tập đoàn thu hút một số lượng lớn người cho vay một cách hiệu quả. Lưu trữ hồ sơ rất đơn giản, bởi vì tất cả các trái chủ đều có cùng một thỏa thuận với cùng mức lãi suất và ngày đáo hạn. Các công ty cũng được hưởng lợi từ sự linh hoạt trong sự đa dạng đáng kể của các dịch vụ trái phiếu sẵn cho họ. Một cái nhìn nhanh về một số biến thể làm nổi bật tính linh hoạt này.

Các tính năng cơ bản của trái phiếu – chất lượng tín dụng và thời hạn – là những yếu tố chính quyết định lãi suất của trái phiếu. Trong bộ phận thời hạn trái phiếu, các công ty cần tài trợ ngắn hạn có thể phát hành trái phiếu đáo hạn trong một khoảng thời gian gắn. Các công ty cần tài trợ dại hạn có thể kéo dài khoản vay của họ lên 10, 30, 100 năm hoặc thậm chí có thể hơn nữa. Cái gọi là trái phiếu vĩnh viễn không có ngày đáo hạn và trả lãi mãi mãi.

Chất lượng tín dụng bắt nguồn từ sự kết hợp giữa sức khỏe tài chính của công ty phát hành và thời gian cho vay. Sức khỏe tốt hơn và thời gian ngắn thường cho phếp các công ty trả lãi ít hơn. Điều ngược lại cũng đúng, với các công ty kém lành mạnh hơn và những công ty phát hành nợ dài hạn thường bị buộc phải trả lãi suất cao hơn để lôi kéo các nhà đầu tư.

Thêm tùy chọn trái phiếu

Một trong những lựa chọn thú vị hơn mà các công ty có là cung cấp trái phiếu được hỗ trợ bởi tài sản. Trái phiếu mang lại cho các nhà đầu tư quyền bồi thường đối với tài sản cơ bản của công ty, trong trường hợp công ty không thể thực hiện các khoản thanh toán lãi đã hữa hoặc trả nợ, được gọi là nợ thế chấp.

Trong tài chính tiêu dùng, các khoản vay mua ô tô và thế chấp nhà là những ví dụ về loại nợ này. Các công ty cũng có thể phát hành nợ không được hỗ trợ bởi các tài sản cơ bản. Trong tài chính tiêu dùng, nợ thẻ tín dụng và hóa đơn tiện ích là ví dụ về các khoản vay không được thế chấp. Các khoản vay thuộc loại này được gọi là nợ không có bản đảm của người dùng. Nợ không có bảo đảm mang lại rủi ro cao hơn cho nhà đầu tư, vì vậy nó thường trả lãi suất cao hơn nợ thế chấp.

Trái phiếu chuyển đổi cũng là một cân nhắc. Loại trái phiếu này bắt đầu hoạt động giống như các trái phiếu khác, nhưng cung cấp cho nhà đầu tư cơ hội chuyển đổi cổ phần của họ thành một số lượng cổ phiếu được xác định trước. Trong một kịch bản hoàn hảo, các chuyển đổi như vậy cho phép các nhà đầu tư được hưởng lợi từ giá cổ phiếu tăng và cho các công ty một khoản vay mà họ không phải trả.

Điểm mấu chốt

Đối với các công ty, thị trường trái phiếu rõ ràng cung cấp nhiều cách để vay. Từ quan điểm của một nhà đầu tư, thị trường trái phiếu đến thời hạn và lãi suất cho phép các nhà đầu tư lựa chọn các khoản đầu tư phù hợp chặt chẽ với nhu cầu tài trợ cá nhân. Nhiều lựa chọn khác nhau cũng có nghĩa là các nhà đầu tư nên nghiên cứu nhiều hơn để đảm bảo họ hiểu họ đang đặt tiền vào đâu, số tiền họ sẽ kiếm được và khi nào họ có thể mong đợi lấy lại.

Đối với các nhà đầu tư không quen thuộc với thị trường trái phiếu, các cố vấn tài chính có thể cung cấp cái nhìn sâu sắc và hướng dẫn cũng như các khuyến nghị và lời khuyên đầu tư cụ thể. Họ cũng có thể cung cấp một cái nhìn tổng quan về các rủi ro khi đầu tư vào trái phiếu, chẳng hạn như lãi suất tăng, khả năng phá sản doanh nghiệp

Phân tích kỹ thuật là gì

Nghe có vẻ phức tạp, nhưng phân tích kỹ thuật chỉ là tên gọi của một phương pháp phân tích đầu tư rất cơ bản. Nói đơn giản, phân tích kỹ thuật là nghiên cứu về giá thông qua các dạng đồ thị nhằm đầu tư hiệu quả hơn.

phân tích kỹ thuật.jpg

Nguồn gốc của phân tích kỹ thuật hiện đại xuất phát từ lý thuyết Dow do Charles Dow phát triển vào khoảng năm 1900. Charles Dow đã đóng góp rất nhiều cho sự phát triển của phân tích kỹ thuật hiện đại. Lý thuyết Dow tập trung chủ yếu vào sự biến động của giá, tạo nền tảng cho việc phát triển một phương pháp phân tích đầu tư hoàn toàn mới.

Dù bắt nguồn trực tiếp hay gián tiếp từ lý thuyết Dow, phân tích kỹ thuật bao gồm một số nguyên lý cơ bản như giá dịch chuyển theo xu hướng, giá phản ánh mọi thông tin, các tín hiệu xác nhận và phân kỳ, khối lượng phản ánh sự thay đổi xu hướng của giá và ngưỡng hỗ trợ/kháng cự. Cũng nên lưu ý rằng, chỉ số Dow Jones Industrial Average là một phần không thể thiếu của Lý thuyết Dow.

Yếu tố con người trong phân tích kỹ thuật

Giá chứng khoán thể hiện sự đồng thuận. Đó là mức giá mà một người đồng ý mua, còn người khác đồng ý bán. Mức giá mà nhà đầu tư sẵn sàng mua vào hoặc bán ra phụ thuộc chủ yếu vào kỳ vọng. Nếu kỳ vọng giá chứng khoán tăng, nhà đầu tư sẵn sàng mua vào; còn nếu kỳ vọng giá chứng khoán giảm, họ sẽ bán ra. Những lập luận nghe có vẻ đơn giản này lại là thách thức lớn trong việc dự báo giá chứng khoán bởi vì chúng liên quan đến kỳ vọng của con người. Như chúng ta đã biết, không dễ gì cân đo đong đếm hoặc dự báo kỳ vọng của con người. Chính thực tế này làm cho ccs hệ thống giao dịch tự động không phải lúc nào cũng hoạt động hiệu quả.

Do có liên quan đến con người nên tôi tin chắc rằng nhiều quyết định đầu tư trên thế giới đang dựa trên các tiêu chí không phù hợp. Mối quan hệ với gia đình, hàng xóm, nhà tuyển dụng, điều kiện giao thông, thu nhập, những thành bại trong quá khứ đều ảnh hưởng đến niềm tin, kỳ vọng và quyết định của chúng ta.

Từ nhà quản lý quỹ cho đến bà nội trợ, bác sĩ đến sinh viên, kỹ sư đến công nhân, luật sư đến thợ hồ, người giàu đến người nghèo đều có ảnh hưởng đến giá chứng khoán. Đối tượng tham gia đa dạng đã khiến thị trường chứa đựng nhiều yếu tố bất ngờ và hào hứng bởi kỳ vọng của nhà đầu tư thường thay đổi từ thái cực này sang thái cực kia.

Phân tích kỹ thuật dựa vào quá khứ để dự báo tương lai

Phân tích kỹ thuật là quá trình phân tích giá quá khứ của chứng khoán nhằm dự báo giá tương lai, thông qua việc so sánh biến động giá hiện tại với biến động giá trong quá khứ để có được kết quả hợp lý. Quá trình này được một số chuyên viên theo trường phái phân tích kỹ thuật đúc kết thành câu cửa miệng: “Lịch sử tự lặp lại”, trong khi những người khác cho rằng chúng ta nên học hỏi từ quá khứ.

Xem thêm: Khóa học phân tích kỹ thuật