Chuyên mục: Không phân loại

Công ty hợp danh đầu tư TNHH Buffett

Công ty hợp danh đầu tư khởi sự với bảy hội viên trách nhiệm hữu hạn cùng đóng góp được 105000 đô la. Các hội viên TNHH hàng năm nhận được 6% trên vốn đầu tư của họ và 75% doanh lợi vượt mức vừa kể. Còn Buffett người chịu trách nhiệm chung nắm quyền kiểm soát đầu tư ở quỹ hợp danh chỉ nhận được 25% khoản doanh lợi vượt mức này.Hơn 13 năm sau, Buffett tích lũy được khoản tiền bằng số vốn ban đầu nhân với tỷ lệ kép hàng năm 29,5%. Đó không phải là một kết quả dễ đạt được. Mặc dù chỉ số công nghiệp trung bình Dow Jones giảm giá trong năm năm khác nhau của giai đoạn 13 năm đó, công ty hợp danh Buffett vẫn không hề đi xuống. Thực tế, Buffett bắt đầu thành lập công ty với tham vọng vượt qua chỉ số Dow Jones mỗi năm 10 điểm. Và ông đã vượt qua chỉ số này không chỉ là 10 mà là 20 điểm mỗi năm!

moo06_6-copy

Khi uy tín của Buffett tăng lên, nhiều người tới hỏi ông cách quản lý tiền. Trong thời gian điều hành công ty hợp danh này, Buffett đầu tư nắm quyền kiểm soát một số công ty công và tư nhân. Năm 1962, ông bắt đầu mua cổ phiếu của một công ty dệt may đang èo uột là Berkshire Hathaway.

Cùng năm 1962, Buffett chuyển văn phòng công ty hợp danh từ quê nhà ông tới Kiewit Plaza tại Omaha, chính là trụ sở văn phòng cho tới tận ngày hôm nay. Năm tiếp theo, ông có một vụ đầu tư gây choáng váng dư luận.

Một vụ bê bối có liên quan tới một trong những khách hàng làm huỷ hoại danh tiếng của American Express khiến cổ phiếu của hãng rớt giá từ 65 đô la xuống còn 35 đô la chỉ trong vòng một đêm. Buffett đã áp dụng rất tốt bài học của Ben Graham: Khi cổ phiếu của một công ty lớn đang bán dưới mức giá trị thực của nó, hãy hành động thật quyết đoán. Buffett có một quyết định đầy táo bạo: Dùng 40% tổng số tài sản của công ty hợp danh, 13 triệu đô la, để mua cổ phiếu của American Express. Hơn hai năm sau, cổ phiếu đó tăng giá lên gấp ba lần, và các thành viên hợp tác thu được lợi nhuận ròng 20 triệu đô la. Đó là Graham đích thực – Buffett đích thực.

Năm 1965, tài sản của công ty hợp danh đã tăng lên 26 triệu đô la. Bốn năm sau, với lý do thấy thị trường có tính chất đầu cơ cao và những giá trị thực đang ngày càng khan hiếm, Buffett quyết định chấm dứt Công ty hợp danh đầu tư.

Khi công ty hợp danh đầu tư giải thể, các nhà đầu tư hoạt động đều được chia phần đầy đủ. Một vài người trong số đó, theo lời khuyên của Buffett, đã tìm kiếm nhà quản trị tài chính Bill Ruane, người bạn học cũ của ông tại Columbia. Ruane chấp nhận quản lý tài chính cho một số hội viên cũ, và Sequoia Fund được thành lập. Các hội viên khác của Công ty hợp danh kể cả Buffett đầu tư phần lợi nhuận hợp tác của họ vào Berkshire Hathaway. Tại thời điểm đó, phần vốn liếng của Buffett ở công ty hợp danh đầu tư cũ đã tăng lên 25 triệu đô la, và khoản tiền ấy giúp ông đủ sức nắm quyền điều hành Berkshire Hathaway.

Những gì ông làm đã nổi tiếng trong giới đầu tư trên toàn thế giới. Thậm chí những người chỉ với một chút lợi nhuận thoáng qua trên thị trường chứng khoán cũng nhận ra tên của Buffett và biết một vài điều về thành công lẫy lừng của ông. Trong các chương tiếp theo, chúng ta sẽ theo dõi những thăng trầm của Berkshire Hathaway trong 40 năm Buffett điều hành. Có lẽ, quan trọng hơn là chúng ta sẽ nhìn sâu vào bên trong để khám phá đến tận cùng triết lý phán đoán chung mà nhờ nó, ông đã tạo dựng thành công cho mình.

Xem thêm: Chứng quyền warrant là gì?

Warren Buffett khởi nghiệp đầu tư

Warren buffett khoi nghiep

Warren Edward Buffett sinh ngày 30 tháng Tám năm 1930 tại Omaha, Nebraska. Ông nội ông là chủ một cửa hàng tạp hoá (và từng thuê chàng trai trẻ Charlie Munger) còn cha ông là một nhà môi giới chứng khoán địa phương. Từ thời niên thiếu, Warren Buffett đã ham mê những con số đến mức có thể ghi nhớ dễ dàng các kết quả tính toán. Lên tám tuổi, Buffett bắt đầu đọc các tác phẩm viết về thị trường chứng khoán của cha mình. 11 tuổi, Buffett chú ý tìm hiểu bảng niêm yết giá cổ phiếu ở nơi cha ông làm việc.
Những năm tháng thiếu thời của ông đầy sinh động với những cuộc phiêu lưu kinh doanh, và ông thành công đến nỗi ông nói với cha rằng ông muốn bỏ qua ‘’khâu học đại học” để tiến thẳng vào sự nghiệp kinh doanh. Nhưng cha ông đã từ chối.

Buffett tham dự khoá học kinh doanh tại trường Đại học Nebraska, và trong quá trình học, ông đọc một cuốn sách mới về đầu tư của một giáo sư trường Đại học Columbia có tên là Benjamin Graham. Đó chính là cuốn The Intelligent Investor (Nhà đầu tư thông minh). Buffett rất tâm đắc với những ý kiến của Graham, và ông đã dự tuyển vào trường Đại học Columbia để được học tập trực tiếp với giáo sư Graham. Nhớ lại những tháng ngày đó, Bill Ruane, nay là Chủ tịch của Sequoia Fund (Quỹ cây tùng) và là bạn cùng lớp với ông kể rằng đã có một phản ứng hoá học tinh thần xảy ra tức thì giữa Graham và Buffett, và phần còn lại của lớp học là khán giả đầu tiên.

Không lâu sau khi Buffett tốt nghiệp trường Đại học Columbia với tấm bằng cao học kinh tế, Graham đã mời người cựu sinh viên của mình tham gia công ty của ông, Công ty Graham-Newman. Suốt hai năm làm việc ở đây, Buffett thực sự bị lôi cuốn bởi phương pháp đầu tư của người thầy thông thái. (Đọc Chương 2 để biết một cuộc tranh luận đầy đủ về triết lí kinh doanh của Graham).

Năm 1956, Graham – Newman giải thể vì Graham lúc ấy đã 61 tuổi. Ông quyết định nghỉ hưu. Buffett lại quay về Omaha. Với những kiến thức lĩnh hội được từ Graham cùng sự hỗ trợ tài chính của gia đình và bạn bè, cộng với 100 đô la của chính mình, Buffett khai trương Công ty hợp danh đầu tư trách nhiệm hữu hạn. Lúc đó, ông mới 25 tuổi.

Xem thêm: Cách giao dịch chứng khoán

Tại sao các công ty phát hành trái phiếu

Khi các công ty cần tiền, phát hành trái phiếu là một cách để làm điều đó. Một trái phiếu có chức năng như một khoản vay giữa một nhà đầu tư và một công ty. Nhà đầu tư đồng ý cung cấp cho công ty một số tiền cụ thể trong một khoảng thời gian cụ thể để đổi lấy các khoản thanh toán lãi định kỳ theo các khoảng thời gian được chỉ định. Khi khoản vay đến ngày đáo hạn, khoản vay của nhà đầu tư được hoàn trả.

Quyết định phát hành trái phiếu thay vì lựa chọn các phương thức huy động tiền khác có thể được điều khiển bởi nhiều yếu tố. So sánh các tính năng và lợi ích của trái phiếu so với các phương thức huy động tiền mặt phổ biến khác cung cấp một số hiểu biết về lý do tại sao các công ty thường tìm đến phát hành trái phiếu khi họ cần huy động tiền mặt để tài trợ cho các hoạt động của công ty.

tại sao các công ty phát hành trái phiếu

Trái phiếu so với ngân hàng

Vay từ ngân hàng có lẽ là phương pháp xuất hiện đầu tiên đối với nhiều người cần tiền. Điều này dẫn đến câu hỏi, tại sao một công ty sẽ phát hành trái phiếu thay vì chỉ vay từ ngân hàng?

Giống như mọi người, các công ty có thể vay từ ngân hàng, nhưng phát hành trái phiếu thường là một đề xuất hấp dẫn hơn. Lãi suất công ty trả cho nhà đầu tư trái phiếu thường thấp hơn lãi suất vay ngân hàng. Tiền trả lãi làm giảm lợi nhuận của công ty nên giảm thiểu số tiền lãi phải khi vay tiền là một cân nhắc quan trọng. Đó là một trong những lý do mà các công ty lành mạnh dường như không cần tiền thường phát hành trái phiếu khi lãi suất ở mức thấp. Khả năng vay một khoản tiền lớn với lãi suất thấp mang lại cho các tập đoàn khả năng đầu tư vào tăng trưởng, cơ sở hạ tầng và các dự án khác.

Phát hành trái phiếu cũng mang lại cho các công ty sự tự do hoạt động lớn hơn đáng kể khi họ thấy phù hợp bởi vì nó giải phóng họ khỏi những hạn chế thường gắn liền với các khoản vay ngân hàng. Ví dụ, xem xét rằng người cho vay thường yêu cầu các công ty đồng ý với một loạt các hạn chế, chẳng hạn như không phát hành thêm nợ hoặc không thực hiện mua lại cho đến khi khoản vay của họ được hoàn trả đầy đủ.

Những hạn chế như vậy có thể cản trở khả năng kinh doanh của công ty và hạn chế các lựa chọn hoạt động của công ty về việc phát hành trái phiếu cho phép các công ty huy động tiền mà không có sự ràng buộc nào như vậy.

Trái phiếu so với cổ phiếu

Phát hành cổ phiếu, có nghĩa là trao quyền sở hữu theo tỷ lệ trong công ty cho các nhà đầu tư để đổi lấy tiền, là một cách phổ biến để các tập đoàn huy động tiền. Từ góc độ doanh nghiệp, có lẽ tính năng hấp dẫn nhất của phát hành cổ phiếu là tiền được tạo ra từ việc bán cổ phiếu không cần phải trả. Tuy nhiên, có những nhược điểm với việc phát hành cổ phiếu có thể khiến trái phiếu trở thành đề xuất hấp dẫn hơn.

Với trái phiếu, các công ty cần huy động tiền có thể tiếp tục phát hành trái phiếu mới, miễn là họ có thể tìm thấy các nhà đầu tư sẵn sàng  đóng vai trò là người cho vay. Việc phát hành trái phiếu mới không ảnh hưởng đến quyền sở hữu công ty hoặc cách thức hoạt động của công ty. Mặt khác, phát hành cổ phiếu, đưa cổ phiếu chứng khoán bổ sung vào lưu thông, điều đó có nghĩa là thu nhập trong tương lai phải được chia sẻ giữa một nhóm các nhà đầu tư lớn hơn. Điều này có thể dẫn đến giảm thu nhập trên mỗi cổ phần, đặt ít tiền hơn vào túi chủ sở hữu.

EPS cũng là một trong những số liệu mà các nhà đầu tư nhìn vào khi đánh giá sức khỏe của một công ty. Số lượng EPS giảm thường không được xem là một sự phát triển thuận lợi.

Phát hành thêm cổ phiếu cũng có nghĩa là quyền sở hữu hiện đang được trải rộng trên một số lượng lớn nhà đầu tư, điều này thường làm cho mỗi cổ phiếu của chủ sở hữu có giá trị tiền mặt ít hơn. Vì các nhà đầu tư mua cổ phiếu để kiếm tiền, làm loãng giá trị khoảng đầu tư của họ không phải là kết quả thuận lợi. Bằng cách phát hành trái phiếu, các công ty có thể tránh kết quả này.

Xem thêm: Cách đầu tư cổ phiếu

Thông tin thêm về trái phiếu

Phát hành trái phiếu cho phép các tập đoàn thu hút một số lượng lớn người cho vay một cách hiệu quả. Lưu trữ hồ sơ rất đơn giản, bởi vì tất cả các trái chủ đều có cùng một thỏa thuận với cùng mức lãi suất và ngày đáo hạn. Các công ty cũng được hưởng lợi từ sự linh hoạt trong sự đa dạng đáng kể của các dịch vụ trái phiếu sẵn cho họ. Một cái nhìn nhanh về một số biến thể làm nổi bật tính linh hoạt này.

Các tính năng cơ bản của trái phiếu – chất lượng tín dụng và thời hạn – là những yếu tố chính quyết định lãi suất của trái phiếu. Trong bộ phận thời hạn trái phiếu, các công ty cần tài trợ ngắn hạn có thể phát hành trái phiếu đáo hạn trong một khoảng thời gian gắn. Các công ty cần tài trợ dại hạn có thể kéo dài khoản vay của họ lên 10, 30, 100 năm hoặc thậm chí có thể hơn nữa. Cái gọi là trái phiếu vĩnh viễn không có ngày đáo hạn và trả lãi mãi mãi.

Chất lượng tín dụng bắt nguồn từ sự kết hợp giữa sức khỏe tài chính của công ty phát hành và thời gian cho vay. Sức khỏe tốt hơn và thời gian ngắn thường cho phếp các công ty trả lãi ít hơn. Điều ngược lại cũng đúng, với các công ty kém lành mạnh hơn và những công ty phát hành nợ dài hạn thường bị buộc phải trả lãi suất cao hơn để lôi kéo các nhà đầu tư.

Thêm tùy chọn trái phiếu

Một trong những lựa chọn thú vị hơn mà các công ty có là cung cấp trái phiếu được hỗ trợ bởi tài sản. Trái phiếu mang lại cho các nhà đầu tư quyền bồi thường đối với tài sản cơ bản của công ty, trong trường hợp công ty không thể thực hiện các khoản thanh toán lãi đã hữa hoặc trả nợ, được gọi là nợ thế chấp.

Trong tài chính tiêu dùng, các khoản vay mua ô tô và thế chấp nhà là những ví dụ về loại nợ này. Các công ty cũng có thể phát hành nợ không được hỗ trợ bởi các tài sản cơ bản. Trong tài chính tiêu dùng, nợ thẻ tín dụng và hóa đơn tiện ích là ví dụ về các khoản vay không được thế chấp. Các khoản vay thuộc loại này được gọi là nợ không có bản đảm của người dùng. Nợ không có bảo đảm mang lại rủi ro cao hơn cho nhà đầu tư, vì vậy nó thường trả lãi suất cao hơn nợ thế chấp.

Trái phiếu chuyển đổi cũng là một cân nhắc. Loại trái phiếu này bắt đầu hoạt động giống như các trái phiếu khác, nhưng cung cấp cho nhà đầu tư cơ hội chuyển đổi cổ phần của họ thành một số lượng cổ phiếu được xác định trước. Trong một kịch bản hoàn hảo, các chuyển đổi như vậy cho phép các nhà đầu tư được hưởng lợi từ giá cổ phiếu tăng và cho các công ty một khoản vay mà họ không phải trả.

Điểm mấu chốt

Đối với các công ty, thị trường trái phiếu rõ ràng cung cấp nhiều cách để vay. Từ quan điểm của một nhà đầu tư, thị trường trái phiếu đến thời hạn và lãi suất cho phép các nhà đầu tư lựa chọn các khoản đầu tư phù hợp chặt chẽ với nhu cầu tài trợ cá nhân. Nhiều lựa chọn khác nhau cũng có nghĩa là các nhà đầu tư nên nghiên cứu nhiều hơn để đảm bảo họ hiểu họ đang đặt tiền vào đâu, số tiền họ sẽ kiếm được và khi nào họ có thể mong đợi lấy lại.

Đối với các nhà đầu tư không quen thuộc với thị trường trái phiếu, các cố vấn tài chính có thể cung cấp cái nhìn sâu sắc và hướng dẫn cũng như các khuyến nghị và lời khuyên đầu tư cụ thể. Họ cũng có thể cung cấp một cái nhìn tổng quan về các rủi ro khi đầu tư vào trái phiếu, chẳng hạn như lãi suất tăng, khả năng phá sản doanh nghiệp

Phân tích kỹ thuật là gì

Nghe có vẻ phức tạp, nhưng phân tích kỹ thuật chỉ là tên gọi của một phương pháp phân tích đầu tư rất cơ bản. Nói đơn giản, phân tích kỹ thuật là nghiên cứu về giá thông qua các dạng đồ thị nhằm đầu tư hiệu quả hơn.

phân tích kỹ thuật.jpg

Nguồn gốc của phân tích kỹ thuật hiện đại xuất phát từ lý thuyết Dow do Charles Dow phát triển vào khoảng năm 1900. Charles Dow đã đóng góp rất nhiều cho sự phát triển của phân tích kỹ thuật hiện đại. Lý thuyết Dow tập trung chủ yếu vào sự biến động của giá, tạo nền tảng cho việc phát triển một phương pháp phân tích đầu tư hoàn toàn mới.

Dù bắt nguồn trực tiếp hay gián tiếp từ lý thuyết Dow, phân tích kỹ thuật bao gồm một số nguyên lý cơ bản như giá dịch chuyển theo xu hướng, giá phản ánh mọi thông tin, các tín hiệu xác nhận và phân kỳ, khối lượng phản ánh sự thay đổi xu hướng của giá và ngưỡng hỗ trợ/kháng cự. Cũng nên lưu ý rằng, chỉ số Dow Jones Industrial Average là một phần không thể thiếu của Lý thuyết Dow.

Yếu tố con người trong phân tích kỹ thuật

Giá chứng khoán thể hiện sự đồng thuận. Đó là mức giá mà một người đồng ý mua, còn người khác đồng ý bán. Mức giá mà nhà đầu tư sẵn sàng mua vào hoặc bán ra phụ thuộc chủ yếu vào kỳ vọng. Nếu kỳ vọng giá chứng khoán tăng, nhà đầu tư sẵn sàng mua vào; còn nếu kỳ vọng giá chứng khoán giảm, họ sẽ bán ra. Những lập luận nghe có vẻ đơn giản này lại là thách thức lớn trong việc dự báo giá chứng khoán bởi vì chúng liên quan đến kỳ vọng của con người. Như chúng ta đã biết, không dễ gì cân đo đong đếm hoặc dự báo kỳ vọng của con người. Chính thực tế này làm cho ccs hệ thống giao dịch tự động không phải lúc nào cũng hoạt động hiệu quả.

Do có liên quan đến con người nên tôi tin chắc rằng nhiều quyết định đầu tư trên thế giới đang dựa trên các tiêu chí không phù hợp. Mối quan hệ với gia đình, hàng xóm, nhà tuyển dụng, điều kiện giao thông, thu nhập, những thành bại trong quá khứ đều ảnh hưởng đến niềm tin, kỳ vọng và quyết định của chúng ta.

Từ nhà quản lý quỹ cho đến bà nội trợ, bác sĩ đến sinh viên, kỹ sư đến công nhân, luật sư đến thợ hồ, người giàu đến người nghèo đều có ảnh hưởng đến giá chứng khoán. Đối tượng tham gia đa dạng đã khiến thị trường chứa đựng nhiều yếu tố bất ngờ và hào hứng bởi kỳ vọng của nhà đầu tư thường thay đổi từ thái cực này sang thái cực kia.

Phân tích kỹ thuật dựa vào quá khứ để dự báo tương lai

Phân tích kỹ thuật là quá trình phân tích giá quá khứ của chứng khoán nhằm dự báo giá tương lai, thông qua việc so sánh biến động giá hiện tại với biến động giá trong quá khứ để có được kết quả hợp lý. Quá trình này được một số chuyên viên theo trường phái phân tích kỹ thuật đúc kết thành câu cửa miệng: “Lịch sử tự lặp lại”, trong khi những người khác cho rằng chúng ta nên học hỏi từ quá khứ.

Xem thêm: Khóa học phân tích kỹ thuật

Thâm dụng vốn

Thâm dụng vốn là gì?

Vốn thâm dụng là các quy trình kinh doanh hoặc các ngành đòi hỏi đầu tư lớn để sản xuất hàng hóa hoặc dịch vụ nào đó có tỷ lệ tài sản cố định cao, còn được gọi là tài sản nhà máy và thiết bị. Các công ty trong các ngành thâm dụng vốn thường có mức khấu hao cao.

thâm dụng vốn là gì.jpg

Các ngành thâm dụng vốn có xu hướng có mức đòn bẩy hoạt động cao, đó là tỷ lệ chi phí cố định so với chi phí biến đổi. Do đó, các ngành thâm dụng vốn cần một khối lượng sản xuất lớn để mang lại lợi tức đầu tư tương xứng. Điều này có nghĩa là những thay đổi nhỏ trong doanh số có thể dẫn đến những thay đổi lớn về lợi nhuận và thu hồi vốn đầu tư.

Đòn bẩy hoạt động cao của họ làm cho các ngành công nghiệp thâm dụng vốn dễ bị suy thoái kinh tế hơn nhiều so với các doanh nghiệp thâm dụng lao động vì họ vẫn phải trả các chi phí cố định như chi phí cho các nhà máy đặt thiết bị, khấu hao thiết bị và các chi phí cố định khác liên quan đến một doanh nghiệp thâm dụng vốn, ngay cả khi ngành công nghiệp đang suy thoái.

Ví dụ về các ngành công nghiệp thâm dụng vốn bao gồm sản xuất ô tô, sản xuất và lọc dầu, sản xuất thép, viễn thông và vận tải, như đường sắt và hàng không. Tất cả các ngành công nghiệp đòi hỏi số lượng lớn chi tiêu vốn.

Đo lường cường độ vốn

Bên cạnh đòn bẩy hoạt động, cường độ vốn của một công ty có thể được đo bằng cách tính toán có bao nhiêu tài sản cần thiết để tạo ra một đô la doanh số, đó là tổng tài sản chia cho doanh số. Đây là tỷ lệ nghịch của tỷ lệ vòng quay tài sản, một chỉ số về hiệu quả mà một công ty đang triển khai tài sản của mình trong việc tạo ra doanh thu.

Một cách khác để đo cường độ vốn của một công ty là so sánh chi phí vốn với chi phí lao động. Ví dụ: nếu một công ty chi 100.000 đô la cho chi tiêu vốn và 30.000 đô la cho lao động, điều đó có nghĩa là công ty rất có thể đang thâm dụng vốn. Tương tự như vậy, nếu một công ty chi 300.000 đô la cho lao động và chỉ 10.000 đô la cho chi tiêu vốn, có nghĩa là công ty có định hướng dịch vụ hoặc lao động nhiều hơn.

Tác động của cường độ vốn đến thu nhập

Các công ty thâm dụng vốn thường sử dụng nhiều đòn bẩy tài chính, vì họ có thể sử dụng nhà máy và thiết bị làm tài sản thế chấp. Tuy nhiên, có cả đòn bẩy hoạt động cao và đòn bẩy tài chính là rất rủi ro.

Nhưng vì các ngành thâm dụng vốn có chi phí khấu hao cao, các nhà phân tích bao gồm các ngành thâm dụng vốn thường thêm khấu hao vào thu nhập ròng bằng cách sử dụng một số liệu gọi là thu nhập trước lãi vay, thuế, khấu hao. Bằng cách sử dụng khấu hao, chi phí không dùng tiền mặt thay vì thu nhập ròng trong tỷ lệ hiệu suất, việc so sánh hiệu suất của các công ty trong cùng ngành sẽ dễ dàng hơn.

Cách đánh giá bảng cân đối kế toán của công ty

Đối với các nhà đầu tư chứng khoán, bảng cân đối kế toán là một báo cáo tài chính quan trọng cần được giải thích khi xem xét đầu tư vào một công ty. Bảng cân đối kế toán là sự phản ánh của các tài sản và nợ phải trả thuộc sở hữu của công ty tại một thời điểm nhất định. Sức mạnh của bảng cân đối kế toán của một công ty có thể được đánh giá bằng ba loại đo lường chất lượng đầu tư: mức độ an toàn vốn lưu động, hiệu suất tài sản và cơ cấu vốn hóa.

Chu kỳ chuyển đổi tiền mặt (CCC)

Chu kỳ chuyển đổi tiền mặt là một chỉ số chính về sự đầy đủ của vị trí vốn lưu động của công ty. Ngoài ra, CCC là một chỉ số về khả năng quản lý hiệu quả hai tài sản quan trọng nhất của công ty – các khoản phải thu và hàng tồn kho.

Tính theo ngày, CCC phản ánh thời gian cần thiết để thu thập doanh số và thời gian cần thiết để bán hàng tồn kho. Chu kỳ càng ngắn càng tốt. Tiền mặt là vua và các nhà quản lý thông minh biết rằng vốn lưu động nhanh có lợi nhận cao hơn vốn lưu động không hiệu quả được gắn trong tài sản.

Không có số liệu tối ưu duy nhất cho CCC, cũng được gọi là chu kỳ hoạt động của công ty. Theo quy định, CCC sẽ bị ảnh hưởng nặng nề bởi loại sản phẩm hoặc dịch vụ mà công ty cung cấp và đặc điểm của ngành.

Các nhà đầu tư đang tìm kiếm chất lượng đầu tư trong lĩnh vực này trong bảng cân đối của côn gty phải theo dõi CCC trong một khoảng thời gian dài và so sánh hiệu suất của nó đối với đối thủ cạnh tranh. Tính nhất quán trong chu kỳ hoạt động là những tín hiệu tích cực. Ngược lại, thời gian thu thập bất thường, thời gian tồn kho bất thường là các chỉ số tiêu cực.

Tỷ lệ doanh thu tài sản cố định

Tài sản, nhà máy và thiết bị (PP&E) hoặc tài sản cố định là một chỉ số quan trọng khác trên bảng cân đối kế toán của công ty. Giá trị này thường đại diện cho thành phần lớn nhất trong tổng tài sản của công ty. Bạn đọc cần lưu ý rằng thuật ngữ tài sản cố định làcách viết tắt của chuyên gia tài chính đối với PP&E mặc dù tài liệu đầu tư đôi khi đề cập đến tổng tài sản phi hiện tại của một công ty là tài sản cố định.

Đầu tư của một công ty vào tài sản cố đinh phụ thuộc phần lớn vào ngành nghề kinh doanh của nó. Một số doanh nghiệp thâm dụng vốn hơn những doanh nghiệp khác. Các nhà sản xuất thiết bị vốn lớn, chẳng hạn như các nhà sản xuất thiết bị nông nghiệp, đòi hỏi một lượng lớn đầu tư tài sản cố định. Các công ty dịch vụ và nhà sản xuất phần mềm máy tính cần một lượng tài sản cố định tương đối nhỏ. Các nhà sản xuất chính thống thường có 30% đến 40% tài sản của họ trong PP&E. Theo đó, tỷ lệ vòng quay tài sản cố định sẽ khác nhau giữa các ngành công nghiệp khác nhau.

Tỷ lệ hoàn vốn của tài sản

Lợi nhuận trên tài sản (ROA) được coi là tỷ suất sinh lời – nó cho thấy công ty đang kiếm được bao nhiêu trên tổng tài sản của mình. Tuy nhiên, đáng để xem tỷ lệ ROA là một chỉ số về hiệu suất tài sản.

Tỷ lệ ROA được tính như sau:

ROA = Net Income/Average Total Assets

Tổng tài sản trung bình được tính bằng cách chia tổng tài sản cuối năm của hai kỳ tài chính.

Tỷ lệ ROA được biểu thị bằng tỷ lệ phần trăm lợi nhuận bằng cách so sánh thu nhập ròng, điểm mấu chốt của báo cáo thu nhập, với tổng tài sản trung bình. Tỷ lệ hoàn vốn cao ngụ ý các tài sản được quản lý tốt. Một lần nữa, tỷ lệ ROA được sử dụng tốt nhất như là một phân tích so sánh về hiệu suất lịch sử của chính công ty với các công ty trong một ngành kinh doanh tương tự.

Tác động của tài sản vô hình

Nhiều tài sản phi vật chất được coi là tài sản vô hình, được phân loại thành ba loại khác nhau: tài sản trí tuệ (bằng sáng chế, bản quyền, nhãn hiệu, tên thương hiệu,v.v), phí trả chậm (chi phí vốn hóa) và mua thiện chí (chi phí của một nhà đầu tư vượt quá giá trị sổ sách).

Thật không may, có rất ít tính đồng nhất trong các bản trình bày bảng cân đối cho các tài sản vô hình hoặc thuật ngữ được sử dụng trong chú thích tài khoản. Thông thường, tài sản vô hình được chôn trong các tài sản khác và chỉ được tiết lộ trong một ghi chú tài chính.

Các nhà phân tích bảo thủ sẽ khấu trừ số tiền thiện chí đã mua từ vốn cổ đông để đến với giá trị ròng hữu hình của một công ty. Trong trường hợp không có bất kỳ phép đo phân tích chính xác nào để đưa ra đánh giá về tác động của khoản khấu trừ này, các nhà đầu tư sử dụng lẽ thường. Nếu việc khấu trừ thiện chí đã mua có tác động tiêu cực nghiêm trọng đến vị thế vốn chủ sở hữu của công ty, thì đó là vấn đề cần quan tâm. Ví dụ, bảng cân đối đòn bẩy vừa phải có thể không hấp dẫn nếu các khoản nợ của nó vượt qua mức nghiêm trọng của vị thế vốn chủ sở hữu.

Các công ty mua lại các công ty khác, vì vậy thiện chí mua là một thực tế của cuộc sống trong kế toán tài chính. Tuy nhiên, các nhà đầu tư cần xem xét kỹ một lực lượng thiện chí mua tương đối lớn trên  bảng cân ddoois kế toán. Tác động của tài khoản này đến chất lượng đầu tư của bảng cân đối cần được phải đánh giá theo quy mô so sánh với vốn chủ sở hữu của cổ đông và tỷ lệ thành công của công ty với việc mua lại. Đây thực sự là một lời kêu gọi phán xét, nhưng cần phải được xem xét chu đáo.

Điểm mấu chốt

Tài sản đại diện cho các mặt hàng có giá trị mà một công ty sở hữu, có trong sở hữu của nó. Trong số các loại mặt hàng khác nhau mà công ty sở hữu, các khoản phải thu, hàng tồn kho, PP&E và tài sản vô hình thường là bốn tài sản lớn nhất ở phần tài sản của bảng cân đối kế toán. Do đó, bảng cân đối kế toán mạnh được xây dựng dựa trên việc quản lý hiệu quả các loại tài sản chính này và danh mục đầu tư mạnh được xây dựng dựa trên việc biết cách đọc và phân tích báo cáo tài chính.

Bảng cân đối kế toán

Bảng cân đối kế toán là gì?

Bảng cân đối kế toán là báo cáo tài sản nợ, nợ phải trả và vốn chủ sở hữu của công ty tại một thời điểm cụ thể vào tạo cơ sở cho việc tính toán tỷ lệ hoàn vốn và đáng giá cấu trúc vốn của công ty. Đó là một báo cáo tài chính cung cấp một bức chân dung về những gì một công ty sở hữu và nợ, cũng như số tiền đầu tư của các cổ đông.

bảng cân đối kế toán.jpeg

Bảng cân đối tuân thủ phương trình sau, trong đó tài sản ở một bên và nợ phải trả cộng với vốn chủ sở hữu của cổ đông, cân đối ra:

Tài sản = Nợ phải trả + Vốn chủ sở hữu của cổ đông

Điều này là trực quan: Một công ty phải trả cho tất cả những thứ mà họ sở hữu bằng cách vay tiền hoặc lấy nó từ các nhà đầu tư.

Ví dụ: nếu một công ty nhận khoản vay 4000 đô la trong năm năm từ ngân hàng, tài sản của công ty, cụ thể là khoản tiền mặt sẽ tăng thêm 4000 đô la; các khoản nợ của nó – cụ thể là khoản tiền mặt cũng sẽ tăng thêm 4000 đô la, cân bằng hai mặt của phương trình trên. Nếu câu ty lấy 8000 đô la từ các nhà đầu tư, tài sản của công ty sẽ tăng theo số tiền đó, cũng như vốn chủ sở hữu của các cổ đông. Tất cả các khoản thu mà công ty tạo ra vượt quá các khoản nợ của nó sẽ đi vào tài khoản vốn cổ đông, đại diện cho tài sản ròng mà các chủ sở hữu nắm giữ. Các khoản thu này sx được cân đối về phía tài sản, xuất hiện dưới dạng tiền mặt, đầu tư, hàng tồn kho hoặc một số tài sản khác.

Tài sản, nợ phải trả và vốn chủ sở hữu của mỗi cổ đông bao gồm một số tài khoản nhỏ hơn phá vỡ các chi tiết cụ thể về tài chính của công ty. Các tài khoản này rất khác nhau tùy theo ngành và các thuật ngữ tương tự có thể có ý nghĩa khác nhau tùy thuộc vào bản chất của doanh nghiệp.

Tài sản

Trong phân khúc tài sản, các tài sản được liệt kê từ trên xuống dưới theo thứ tự, nghĩa là chúng có thể dễ dàng chuyển dổi thành tiền mặt. Chúng được chia thành các tài sản hiện tại, những tài sản có thể được chuyển đổi thành tiền mặt trong một năm hoặc ít hơn; và tài sản dài hạn.

Dưới đây là thứ tự chung của các tài sản trong tài sản hiện tại:

  • Tiền và các khoản tương đương tiền: các tài sản có tính thanh khoản cao nhất, chúng có thể bao gồm tín phiếu kho bạc và chứng chỉ tiền gửi ngắn hạn, cũng như tiền mặt.
  • Chứng khoán có thể bán được: chứng khoán vốn và chứng khoán nợ có thanh khoản
  • Các khoản phải thu: tiền mà khách hàng nợ công ty, có thể bao gồm cả trợ cấp cho các tài khoản nghi ngờ, vì một tỷ lệ khách hàng nhất định có thể không trả được.
  • Hàng tồn kho: hàng sẵn có để bán, có giá trị thấp hơn giá gốc hoặc giá thị trường.
  • Chi phí trả trước: thể hiện được giá trị đã thanh toán, chẳng hạn như bảo hiểm, hợp đồng quảng cáo hoặc tiền thuê.

Nợ phải trả

Nợ phải trả là một khoản mà công ty nợ bên ngoài, từ các hóa đơn phải trả cho nhà cung cấp đến lãi cho trái phiếu mà công ty đã phát hành cho các chủ nợ để thuê, tiện ích và tiền lương. Nợ ngắn hạn là những khoản nợ đến hạn trong vòng một năm và được liệt kê theo thứ tự ngày đáo hạn của chúng. Nợ dài hạn là khoản phải trả trong hơn 1 năm.

Các khoản nợ ngắn hạn có thể bao gồm:

  • Tỷ lệ hiện tại của khoản vay dài hạn
  • Nợ ngân hàng
  • Tiền lãi phải trả
  • Cho thuê, thuế, tiện ích
  • Tiện lương phải trả
  • Trả trước của khách hàng
  • Cổ tức phải trả

Nợ dài hạn có thể bao gồm:

  • Lãi gốc trên trái phiếu phát hành
  • Trách nhiệm quỹ hưu trí: số tiền mà một công ty bắt buộc phải trả vào tài khoản hưu trí của nhân viên
  • Thuế thu nhập hoãn lại: thuế đã được tích lũy nhưng sẽ không cần phải thanh toán trong vòng 1 năm nữa; bên cạnh thời gian, con số này điều hòa sự khác biệt giữa các yêu cầu về báo cáo tài chính và cách đánh giá thuế, chẳng hạn như tính toán khấu hao

Một số khoản nợ phải trả bằng ngoại tệ, có nghĩa là chúng sẽ không xuất hiện trên bảng cân đối kế toán.

Vốn chủ sở hữu của cổ đông

Vốn chủ sở hữu của cổ đông là tiền quy cho chủ sở hữu doanh nghiệp, nghĩa là cổ đông của công ty. Nó còn được gọi là tài sản ròng, vì nó tương đương với tổng tài sản của một công ty trừ đi các khoản nợ của nó, nghĩa là khoản nợ mà nó không nợ các cổ đông.

Thu nhập giữ lại là thu nhập ròng mà một công ty tái đầu tư vào doanh nghiệp hoặc sử dụng để trả nợ; phần còn lại được chia cho các cổ đông dưới dạng cổ tức.

Cổ phiếu quỹ là cổ phiếu mà một công ty đã mua lại hoặc không bao giờ phát hành ở nơi đầu tiên. Nó có thể được bán vào một ngày sau đó để tăng tiền mặt hoặc dành riêng để đẩy lùi sự tiếp quản thù địch.

Một số công ty phát hành cổ phiếu ưu đãi, sẽ được liệt kê tách biệt với cổ phiếu phổ thông theo vốn chủ sở hữu của cổ đông. Cổ phiếu ưu đãi được gán một mệnh giá tùy ý – như là cổ phiếu phổ thông, trong một số trường hợp, không làm ảnh hưởng đến giá trị thị trường của cổ phiếu. Tài khoản cổ phiếu phổ thông và cổ phiếu ưu đãi được tính bằng cách nhân mệnh giá với số lượng cổ phiếu phát hành.

Vốn thanh toán bổ sung hoặc thặng dư vốn đại diện cho số tiền mà các cổ đông đã đầu tư vượt quá tài khoản cổ phiếu phổ thông hoặc cổ phiếu ưu đãi, dựa trên mệnh giá thay vì giá thị trường. Vốn chủ sở hữu của cổ đông không liên quan trực tiếp đến vốn hóa thị trường của công ty: giá trị này dựa trên giá hiện tại của cổ phiếu, trong khi vốn thanh toán là tổng vốn chủ sở hữu đã mua được ở bất kỳ giá nào.

Làm thế nào để hiểu một bảng cân đối kế toán

Bảng cân đối kế toán là một bức chân dung, thể hiện trạng thái tài chính của công ty tại một thời điểm. Chính nó, nó không thể cho một cảm giác về các xu hướng đang diễn ra trong một thời gian dài hơn. Vì lý do này, bảng cân đối kế toán nên được so sánh với các giai đoạn trước. Nó cũng nên được so sánh với những doanh nghiệp khác nhau của cùng ngành, vì các ngành khác nhau có cách tiếp cận khác nhau.

Một số tỷ lệ được lấy từ bảng cân đối kế toán giúp các nhà đầu tư hiểu được mức độ lành mạnh của một công ty. Chúng bao gồm tỷ lệ nợ trên vốn chủ sở hữu, cùng với nhiều tỷ lệ khác. Báo cáo thu nhập và báo cáo lưu chuyển tiền tệ cũng cung cấp bối cảnh có giá trị để đánh giá tài chính của công ty, cũng như bất kỳ ghi chú hoặc phụ lục nào trong báo cáo thu nhập có thể tham khảo lại bảng cân đối.