Tác giả: admindaotao

Giả thuyết 1 đô la

Mục tiêu của Buffett là lựa chọn những công ty mà mỗi đô la của lợi nhuận giữ lại được chuyển thành ít nhất một đô la giá trị thị trường. Đây là bài kiểm tra để nhanh chóng xác định được những công ty có nhà quản lý có thể đầu tư vốn của công ty tối ưu. Nếu lợi nhuận giữ lại được đầu tư vào nội bộ công ty và tạo ra lợi nhuận trên mức trung bình, thì bằng chứng sẽ là sự gia tăng tương ứng giá trị thị trường của công ty.
Vào thời điểm nhất định, điều đó đã diễn ra. Mặc dù thị trường chứng khoán theo dõi giá trị của công ty trong một thời gian dài, trong một năm nào đó, giá cả sẽ xoay chuyển vì những lý do khác ngoài giá trị. Buffett giải thích điều tương tự cũng xảy ra đối với phần lợi nhuận được giữ lại. Nếu một công ty sử dụng lợi nhuận giữ lại không hiệu quả trong một thời gian dài, thì cuối cùng, thị trường sẽ định giá cổ phiếu của công ty đó một cách đáng thất vọng. Ngược lại, nếu công ty dành được lợi nhuận trên nguồn vốn tăng thêm trên trung bình, thì giá chứng khoán tăng sẽ cho thấy sự thành công.
Buffett tin rằng nếu ông lựa chọn một công ty có triển vọng kinh tế trong dài hạn tương đối khả quan do những nhà quản lý có khả năng và luôn hướng về cổ đông, thì minh chứng sẽ phản ánh trong giá trị thị trường tăng của công ty. Ông sử dụng một bài kiểm tra nhanh: Giá trị thị trường của một công ty tăng nên ít nhất phù hợp với số lợi nhuận được giữ lại. Nếu giá trị tăng cao hơn lợi nhuận được giữ lại thì tình hình thậm chí còn tốt hơn rất nhiều. Tóm lại, Buffett giải thích rằng: “Nhiệm vụ của bạn là phải lựa chọn một doanh nghiệp có những đặc điểm cho phép một đô la lợi nhuận giữ lại được chuyển thành ít nhất một đô la giá trị thị trường”.
Công ty Coca-Cola
Kể từ năm 1988, khi Buffett bắt đầu mua chứng khoán, tình trạng giá của Coca-Cola quả là phi thường. Từ 10 đô la một cổ phiếu, giá chứng khoán đã tăng lên 45 đô la vào năm 1992. Trong suốt thời gian này, Coca-Cola đã đánh bại hoàn toàn chỉ số S&P 500.
Giữa những năm 1989 và 1999, giá thị trường của Coca-Cola tăng từ 25,8 tỉ đô la lên 143,9 tỉ đô la. Đặt tỉ lệ tăng trưởng này vào một hoàn cảnh khác, hãy xem xét điều này: Một vụ đầu tư 100 đô la vào cổ phiếu thường vào ngày 31 tháng 12 năm 1989, với cổ tức tái đầu tư, thì 10 năm sau mức tăng trưởng theo giá trị trước thuế lên tới 681 đô la, đạt mức lợi nhuận gộp trung bình hàng năm là 21%. Trong cùng giai đoạn 10 năm này, công ty tạo ra 26,9 tỉ đô la lợi nhuận, thanh toán 10,5 tỉ đô la cổ tức cho cổ đông, và giữ lại 16,4 tỉ đô la để tái đầu tư. Mỗi đô la công ty giữ lại đã tạo ra 7,2 đô la theo giá trị thị trường.
Năm 2003, vụ đầu tư trị giá 1.023 tỉ đô la ban đầu của Berkshire vào Coca- Cola đáng giá hơn 10 tỉ đô la.
Công ty Gillette
Từ năm 1998, khi Buffett lần đầu tiên tham gia vào công ty, tới năm 1992, giá trị thị trường của Gillette tăng lên 9,3 tỉ đô la. Trong suốt thời gian này, công ty thu được 1,6 tỉ đô la, phân phối 582 triệu đô la cho các cổ đông, và giữ lại 1,011 tỉ đô la để tái đầu tư. Với mỗi đô la giữ lại, giá trị thị trường của công ty tăng lên 9,21 đô la.

***

Nghiên cứu sâu cơ cấu tài chính của một công ty không phải là nhiệm vụ giản đơn, và đối với bất kỳ ai không phải là Warren Buffett, nghiên cứu tất cả những số liệu này khi công ty là công ty tư nhân rõ ràng là điều không thể. Tuy vậy, như Buffett nói với chúng ta, nỗ lực luôn luôn đem lại kết quả, bởi vì nó gợi mở nguồn thông tin quan trọng.
Như chúng ta biết, các vụ scandal kế toán nối tiếp nhau ngày càng trở nên quan trọng đối với những nhà đầu tư muốn nghiên cứu sâu lĩnh vực tài chính. Không có gì đảm bảo rằng bằng nỗ lực này bạn sẽ khám phá được đầy đủ sự thật, nhưng bạn sẽ có nhiều cơ hội phát hiện ra những con số giả mạo hơn là bạn không làm gì cả. Như Buffett nhận xét: “Các nhà quản lý luôn luôn mong muốn thu được những con số, thì ở một điểm nào đó sẽ tạo ra những con số”. Mục tiêu của bạn là bắt đầu học cách tìm ra sự chênh lệch.

Hướng dẫn đầu tư – Nguyên lý tài chính

Coca-Cola
Trong “Chiến lược những năm 1980”, kế hoạch tái sinh công ty, Goizueta chỉ ra rằng Coca-Cola sẽ không tham gia vào ngành kinh doanh nào không tạo ra lợi nhuận trên vốn cổ phần có thể chấp nhận được. Bất kỳ vụ đầu tư mới nào đều phải có tiềm năng tăng trưởng thực tế đáng kể.
Từ lâu, Coca-Cola quan tâm tới việc cạnh tranh giành cổ phiếu trên một thị trường trì trệ. Goizueta tuyên bố: “Tăng trưởng lợi nhuận trên cổ phiếu và tác động tới lợi nhuận trên vốn cổ phần vẫn là một cuộc cạnh tranh”. Những lời nói của ông sau đó đã biến thành hành động. Ngành kinh doanh rượu của Coca-Cola được chuyển nhượng cho Seagram vào năm 1983.
Mặc dù công ty thu được tỉ lệ lợi nhuận trên vốn cố phần ở mức đáng nể là 20% trong suốt những năm 1970, kết quả đó vẫn không hề gây ấn tượng gì đối với Goizueta. Ông yêu cầu tỉ lệ lợi nhuận cao hơn. Đến năm 1998, lợi nhuận trên vốn cổ phần của Coca-Cola đã tăng lên 31,8%.
Theo bất kỳ biện pháp đo lường nào, Coca-Cola của Goizueta cũng đều đạt kết quả tài chính gấp đôi và gấp ba so với kết quả dưới thời vị CEO trước. Những kết quả được nhìn nhận theo giá trị thị trường của công ty theo thời gian. Năm 1980, giá trị thị trường của Coca-Cola là 4,1 tỉ đô la. Đến cuối năm 1987, con số này tăng lên 14,1 tỉ đô la (xem hình 7.2). Trong bảy năm, giá trị thị trường của Coca-Cola tăng với tỉ lệ trung bình hàng năm là 19,3%.
Công ty Washington Post
Khi Buffett mua chứng khoán của Washington Post hồi năm 1973, lợi nhuận trên vốn cổ phần của công ty là 15,7%. Đây là mức lợi nhuận trung bình đối với hầu hết các tờ báo và chỉ cao hơn một chút so với chỉ số S&P.
Nhưng trong vòng năm năm, tỉ lệ lợi nhuận trên vốn cổ phần của Washington Post đã tăng gấp đôi. Lúc đó, tỉ lệ này cao gấp đôi so với chỉ số S&P và cao hơn 50% so với chỉ số trung bình của công ty báo chí. Sau 10 năm tiếp theo, công ty này đã duy trì được uy thế của mình, tiến tới tỉ lệ lợi nhuận trên vốn cổ phần đạt mức 36,3% vào năm 1998.
Tỉ lệ lợi nhuận trên vốn cổ phần đạt mức trung bình còn ấn tượng hơn khi bạn quan sát công ty đã dần dần chủ động giảm thiểu vay nợ. Năm 1973, tỉ lệ vay nợ dài hạn của công ty trên vốn cổ phần là 37,2%, tỉ lệ cao thứ hai trong ngành báo chí. Thật đáng kinh ngạc là đến năm 1978, Katherine Graham giảm 70% vay nợ của công ty. Năm 1983, nợ dài hạn trên vốn cổ phần dưới mức 2,7%, bằng 1/10 mức trung bình của công ty báo chí. Nhờ vậy, công ty tạo được mức lợi nhuận trên vốn cổ phần cao hơn 10% so với những công ty cùng ngành.

Hướng dẫn đầu tư – Nguyên lý tài chính – P2

Mặc dù để sử dụng tỉ lệ này, chúng ta cần thực hiện một số điều chỉnh. Trước hết, tất cả các chứng khoán có thể chào bán nên được định giá theo chi phí, không phải là theo giá trị thị trường, bởi vì các giá trị trên thị trường chứng khoán nói chung gây ảnh hưởng lớn tới tỉ suất lợi nhuận trên vốn cổ phần của cổ đông đối với một công ty nói riêng. Ví dụ như, nếu thị trường chứng khoán tăng mạnh trong một năm, do vậy làm tăng giá trị ròng của một công ty, thì kết quả hoạt động thực sự nổi trội sẽ bị giảm bớt đi khi so sánh với mẫu số lớn hơn. Ngược lại, giảm giá sẽ làm giảm vốn cổ phần của cổ đông, có nghĩa là kết quả hoạt động tầm thường sẽ được thể hiện tốt hơn nhiều so với thực tế.
Thứ hai, chúng ta phải kiểm soát ảnh hưởng của những nhân tố bất thường có thể có trong tử số của tỉ lệ này. Buffett loại trừ tất cả phần lãi và lỗ trên vốn, cũng như bất kỳ nhân tố bất thường nào làm tăng hoặc làm giảm lợi nhuận hoạt động. Ông đang tìm cách tách biệt kết quả hoạt động thường niên cụ thể của một công ty. Ông muốn biết ban quản lý đã hoàn thành nhiệm vụ tạo mức lợi nhuận từ hoạt động của một công ty với nguồn vốn ban đầu tốt như thế nào. Ông nói, đó là biện pháp đánh giá kết quả kinh tế của ban quản lý tốt nhất.
Hơn thế nữa, Buffett tin tưởng rằng một công ty nên đạt được lợi nhuận trên vốn cổ phần tốt trong khi không vay nợ hoặc vay nợ ít. Chúng ta biết rằng nhiều công ty tăng lợi nhuận trên vốn cổ phần bằng cách tăng tỉ lệ nợ trên vốn cổ phần. Buffett đã nhận ra điều này, nhưng ý tưởng tăng lợi nhuận trên vốn cổ phần của Berkshire Hathaway chỉ đơn giản bằng cách tăng thêm nợ không gây ấn tượng cho ông. Ông nói: “Các quyết định kinh doanh hay đầu tư tốt sẽ cho những kết quả kinh tế tương đối hài lòng mà không cần sự hỗ trợ từ tài sản vay nợ”. Hơn thế nữa, những công ty có mức vay nợ cao sẽ rất dễ đi tới phá sản trong thời kỳ suy thoái kinh tế.
Buffett không đưa ra bất kỳ gợi ý nào về mức nợ bao nhiêu là hợp lý hay bất hợp lý đối với một công ty. Những công ty khác nhau, phụ thuộc vào lưu lượng tiền mặt của mình, sẽ quản lý những mức nợ khác nhau. Điều Buffett nói cho chúng ta biết đó là một công ty phát triển tốt sẽ thu được lợi nhuận trên vốn cổ phần cao mà không cần sự hỗ trợ từ tài sản vay nợ. Các nhà đầu tư nên cảnh giác trước những công ty tạo lợi nhuận trên vốn cổ phần tốt chỉ bằng cách vay nợ.

Hướng dẫn đầu tư – Nguyên lý tài chính

Các nguyên lý tài chính mà qua đó Buffett coi trọng cả khả năng quản lý vượt trội và kết quả kinh tế đều có nền tảng ở một số nguyên tắc điển hình “kiểu Buffett”. Lý do thứ nhất, ông không quá coi trọng kết quả hoạt động một năm. Thay vào đó, ông tập trung vào kết quả hoạt động trung bình của bốn đến năm năm. Ông viết, thường thì doanh thu kinh doanh sinh lợi có thể không xảy ra đồng thời với thời gian hành tinh xoay quanh mặttrời
Ông cũng không kiên nhẫn với những mưu mẹo tài chính cho ra những con số tổng kết năm đầy ấn tượng nhưng chẳng có mấy phần sự thật. Những nguyên lý tài chính “còn bền mãi với thời gian”:
• Tập trung vào tỉ suất lợi nhuận trên vốn cổ phần, không phải là lợi nhuận trên một cổ phiếu.
• Tính toán “lợi nhuận chủ sở hữu” để giá trị được phản ánh xác thực.
• Tìm kiếm những công ty với lợi nhuận biêncao.
• Đối với mỗi đô la giữ lại, công ty có tạo ra được ít nhất một đô la giá trị thị trường không?
Lợi nhuận trên vốn cổ phần
Thông thường, các nhà phân tích đánh giá kết quả hoạt động của công ty bằng cách xem xét lợi nhuận trên một cổ phiếu. So với năm trước, lợi nhuận trên một cổ phiếu có tăng không, có đủ cao không? Về phần mình, Buffett coi lợi nhuận trên cổ phiếu là một bức màn mờ ảo. Do hầu hết các công ty đều giữ lại một tỉ lệ lợi nhuận của năm trước đó để tăng vốn cổ phần cơ bản, nên ông không thấy có lý do gì để vui mừng về kết quả lợi nhuận trên cổ phiếu. Không có gì đáng chú ý khi một công ty tăng lợi nhuận trên cổ phần lên 10% nếu cùng lúc đó vốn cổ phần cơ bản cũng tăng 10%. Ông giải thích, vậy thì chẳng có gì khác khi gửi tiền vào tài khoản tiết kiệm và cộng dồn lãi suất rồi rút ra.
Buffett tin tưởng rằng, kiểm tra kết quả kinh tế rõ nhất khi một công ty đạt được tỉ lệ lợi nhuận trên vốn cổ phần cao, chứ không phải là khi công ty có mức thu nhập ổn định từ lợi nhuận trên cổ phiếu. Để đánh giá kết quả hoạt động thường niên của một công ty, Buffett thích dùng mức lợi nhuận trên vốn cổ phần hơn – đó là tỉ lệ lợi nhuận hoạt động trên cổ phần của cổ đông.

Vấn đề quản lý và sự thờ ơ của Giám đốc – P2

Tôi không hề có ý định đơn giản nói rằng bạn nên từ bỏ. Hãy cứ tiếp tục nghiên cứu, và cố gắng cảnh giác trước những dấu hiệu của tình trạng bất ổn.
Không có gì làm chúng ta ngạc nhiên với việc Warren Buffett đưa ra một số lời khuyên giá trị dưới đây:
• “Hãy cảnh giác trước những công ty phô bày sự tính toán yếu kém”. Cụ thể là, ông cảnh báo chúng ta hãy đề phòng những công ty không chịu trách nhiệm chi phí về quyền chọn chứng khoán. Đó là lá cờ đỏ rõ ràng mà thủ đoạn mờ ám khác cũng hiện diện.
• Một lá cờ đỏ khác: “Những chú thích khó hiểu”. Ông nói, nếu bạn không thể hiểu chúng, đừng giả thuyết là do khuyết điểm của bạn. Đó là một công
cụ ưa chuộng được dùng để che giấu một thứ gì đó mà ban quản lý không muốn bạn biết.
• “Hãy nghi ngờ những công ty mà lợi nhuận ước tính và mức tăng trưởng kỳ vọng được công bố công khai”. Không ai có thể biết trước tương lai, và bất kỳ CEO nào làm như vậy đều không đáng tin.

***

Tóm lại, Buffett muốn bạn làm việc với những nhà quản lý thẳng thắn và trung thực với các cổ đông và nhân viên của họ. Quan điểm bất di bất dịch của ông về hành vi đạo đức như một điều kiện thiết yếu để làm kinh đoanh ngày càng quan trọng hơn kể từ cuộc bùng nổ những vụ scandal đạo đức doanh nghiệp. Tuy vậy, ông sẽ là người đầu tiên thừa nhận rằng giữ một lập trường như vậy, sẽ không giúp các nhà đầu tư tránh được thất bại từ những mánh khoé lừa đảo.
Tôi phải thêm vào lời cảnh báo của bản thân mình: Tôi không hứa rằng làm theo những quy tắc của Phong cách đầu tư Warren Buffett được mô tả trong cuốn sách này sẽ bảo vệ bạn tuyệt đối. Nếu các quan chức của công ty lừa dối nhà đầu tư thông qua những thủ đoạn tính toán hoặc những mánh khoé phi pháp khác và nếu họ là các chuyên gia lừa đảo thì có thể rất khó khăn, và thường là không thể, phát hiện ra chúng đúng lúc. Cuối cùng, thủ phạm sẽ phải ngồi tù, nhưng đó cũng là lúc các cổ đông phải gánh chịu thảm hoạ, và tiền thì cũng đã mất. Điều tôi có thể nói đó là: Nếu bạn thực hiện cách thức đánh giá các vụ đầu tư mà Buffett đã dạy chúng ta cẩn trọng và dành thời gian luyện tập chăm chỉ, bạn sẽ đúng nhiều hơn là sai, và chắc chắn là phải hơn những kẻ gió chiều nào theo chiều ấy, luôn chạy theo dư luận và báo chí.

Vấn đề quản lý và sự thờ ơ của Giám đốc

Buffett cho rằng một phần của vấn đề là do xu hướng đáng xấu hổ của Ban Giám đốc là chỉ biết ký tên đóng dấu vào bất cứ thứ gì các CEO yêu cầu. Đó là vấn đề tính độc lập và sự can đảm – mức độ mà theo đó các giám đốc sẵn sàng thực hiện đúng trách nhiệm được uỷ thác trước nguy cơ làm mất lòng các CEO. Sự sẵn sàng này, hay thiếu nó, đang có mặt ở các ban quản lý trên toàn quốc.
Buffett viết: “Tính độc lập thực sự, có nghĩa là sự sẵn sàng thách thức một vị CEO đầy quyền lực khi ông ta có hành vi sai trái, dại dột – là một nét tiêu biểu cực kỳ có giá trị của một vị giám đốc”. Chúng ta có thể tìm thấy phẩm chất cao quý này ở những CEO mà lợi ích của họ phù hợp với lợi ích của các cổ đông. Buffett đã minh hoạ vị thế của ông bằng cách mô tả điều ông tìm kiếm ở các thành viên trong Hội đồng Quản trị của Berkshire Hathaway – “rất ngay thẳng, có hiểu biết kinh doanh, hướng tới cổ đông, và quan tâm thực sự tới công ty”. Liệu chúng ta có thể xác định giá trị của ban quản lý hay không?
Buffett sẽ là người đầu tiên thừa nhận rằng để đánh giá nhà quản lý theo ba chiều – sự hợp lý, lòng ngay thẳng, và lối suy nghĩ độc lập – quả thực là khó khăn hơn đánh giá tình hình tài chính, bởi một lẽ đơn giản là con người thường phức tạp hơn những con số.
Thực ra, nhiều nhà phân tích tin rằng bởi vì đánh giá hoạt động của con người là không rõ ràng và thiếu chính xác, nên chúng ta hoàn toàn không thể đánh giá được mức độ đáng tin cậy của ban quản lý, và vì vậy bài toán trở thành vô nghĩa. Họ dường như gợi ý rằng không có các con số, sẽ chẳng có gì để đo đạc, đánh giá cả. Những người khác lại cho rằng giá trị của ban quản lý được thể hiện đầy đủ trong những con số thống kê kết quả hoạt động của công ty, bao gồm doanh thu, lợi nhuận biên, lợi nhuận trên vốn cổ phần, và chỉ cần dựa vào các chỉ tiêu đánh giá này mà thôi.
Cả hai ý kiến đều có căn cứ, nhưng không ý kiến nào đủ mạnh để vượt qua lập luận ban đầu. Lý do dành thời gian để đánh giá ban quan lý là giúp cho bạn biết những dấu hiệu cảnh báo ban đầu về kết quả tài chính sau cùng. Nếu bạn xem xét kỹ lưỡng từng từ ngữ và hành động của một ban quản lý, bạn sẽ tìm thấy đầu mối giúp bạn đánh giá giá trị công việc của họ một thời gian khá dài trước khi nó được thể hiện trong báo cáo tài chính của công ty hoặc trên những trang chứng khoán trong tờ nhật báo. Làm như vậy sẽ tìm ra được một số thông tin hữu ích, và chừng đó đủ để ngăn cản sự mềm yếu của con tim hay sự lười biếng. Như vậy, họ mất còn bạn được.
Làm thế nào để bắt tay vào thu thập nguồn thông tin cần thiết? Buffett đưa ra một vài lời khuyên. Ông gợi ý khi tổng kết những báo cáo thường niên từ một số năm trước đây, nên đặc biệt chú ý tới điều mà ban quản lý nói và sau đó là về các chiến lược cho tương lai. Sau đó, so sánh những kế hoạch đó với kết quả đạt được ngày hôm nay: Chúng được thực hiện đầy đủ như thế nào? Cũng so sánh những chiến lược đề ra cách đây vài năm với những chiến lược và ý kiến của năm nay: Lối suy nghĩ thay đổi như thế nào? Buffett cũng gợi ý rằng cũng rất hữu ích khi so sánh các báo cáo thường niên của công ty bạn quan tâm với những bản báo cáo của những công ty tương tự trong cùng ngành. Không phải lúc nào cũng dễ dàng tìm ra những điểm giống nhau tuyệt đối, nhưng thậm chí sự so sánh kết quả liên quan cũng giúp bạn hiểu biết sâu sắc hơn.
Tôi đọc các báo cáo thường niên của công ty tôi đang quan tâm và đọc cả báo cáo thường niên của các đối thủ cạnh tranh. Đó chính là điểm cốt lõi của vấn đề.

Chúng tôi muốn làm cho mọi thứ luôn đơn giản, vì vậy vị Chủ tịch Hội đồng Quản trị có thể ngồi đâu đó và đọc báo cáo thường niên.

Hãy mở rộng phạm vi hiểu biết của bạn. Hãy cảnh giác trước những bài đăng trên báo và tạp chí tài chính về công ty mà bạn đang quan tâm và về cả ngành nói chung. Hãy đọc điều mà những CEO của công ty nói ra và điều mà những người khác nói về họ. Nếu bạn thấy gần đây vị Chủ tịch Hội đồng Quản trị có một bài phát biểu hoặc diễn thuyết, hãy xin một bản copy từ phòng quan hệ đầu tư và nghiên cứu nó thật cẩn thận. Hãy truy cập trang web của công ty để tìm kiếm nguồn thông tin cập nhật nhất. Trong mỗi cách bạn có thể nghĩ ra, hãy làm tăng tầm quan sát của bạn. Bạn càng phát triển thói quen luôn cảnh giác trước thông tin, thì quá trình này ngày càng trở nên dễ dàng hơn.
Ở điểm này, dù có thể làm bạn không vui, nhưng cần phải nói thẳng là rất có thể những tài liệu bạn nghiên cứu chứa đầy những con số được thổi phồng, những bản thống kê nửa sự thật, và những điều chủ ý gây hoang mang có chủ tâm. Tất cả chúng ta đều biết tên tuổi của những công ty đã bị buộc tội về hành vi này, có một danh mục những công ty Mỹ chuyên lừa đảo, và một vài trong số những nhà lãnh đạo của các công ty này đã “dành rất nhiều thời gian trong tù” để suy nghĩ về hành vi của mình. Đôi khi những vụ lừa bịp quá tinh vi đến mức thậm chí những kế toán toà án cũng bị lừa. Vậy bạn – một nhà đầu tư không có kiến thức chuyên ngành – làm cách nào để hiểu thấu được những gì bạn đang thấy?
Đáng tiếc câu trả lời là: Bạn không thể. Bạn có thể học cách đọc các báo cáo thường niên và các bản cân đối kế toán, bạn nên làm như vậy, nhưng nếu chúng được xây dựng từ những thủ đoạn lừa đảo trắng trợn, thì bạn khó có thể phát hiện ra được.

Những vấn đề kế toán phi pháp và tài chính mờ ám

Bất kỳ ai đang đọc một tờ nhật báo trong quý hai của năm 2001 đều không thể không nhận ra làn sóng những việc làm sai trái ở các công ty đang ngày càng gia tăng. Trong nhiều tháng, tất cả chúng ta đều chứng kiến những vụ bê bối nối tiếp nhau, liên quan tới một số những tên tuổi nổi tiếng nhất trong ngành công nghiệp Mỹ. Tất cả những vụ việc này đều được gộp chung lại dưới một thuật ngữ chung là “scandal kế toán” bởi vì những hành vi phạm pháp tập trung vào những thủ đoạn kế toán và bởi vì những kiểm toán viên bên ngoài có nhiệm vụ thẩm tra lại các báo cáo kế toán lại chính là người trong cuộc.
Tất nhiên, trong dài hạn, vấn đề chờ đợi ban quản lý vượt qua những vấn đề xảy ra với hoạt động của những thủ đoạn kế toán.
Tất nhiên, rộng lớn hơn vấn đề kế toán, đó là vấn đề hám lợi, nói dối và hành động tội ác. Những báo cáo kế toán chính là thứ rất tốt để nhìn ra những dấu hiệu của vấn đề. Trong thư gửi cổ đông năm 2002, Buffett đã cảnh báo các nhà đầu tư phải cẩn thận khi đọc các bản báo cáo thường niên. Ông viết: “Khi bạn là một độc giả của một báo cáo tài chính trong những năm gần đây, bạn sẽ thấy một loạt các báo cáo chi tiết lợi nhuận ‘chiếu lệ’ – xếp thành bảng trong đó các nhà quản lý lúc nào cũng chỉ ra ‘phần lợi nhuận’ vượt quá xa so với những con số được kiểm toán. Trong cách trình bày này, CEO nói với các cổ
đông rằng ‘đừng tính cái này, đừng tính cái kia – chỉ tính cái gì làm tăng lợi nhuận mà thôi’. Thường thì, năm nào cũng sẽ có một thông điệp kiểu ‘hãy quên tất cả những điều tồi tệ này đi’ được đưa ra mà ban quản lý không hề cảm thấy xấu hổ”.
Buffett thẳng thắn thể hiện sự phẫn nộ trước những vụ scandal. “Điều sai trái rành rành xảy ra đã phụ niềm tin của hàng triệu cổ đông”. Ông cho rằng những ngày tháng “sôi nổi” hồi đầu những năm 1990, giai đoạn “làm giàu nhanh chóng” mà ông gọi là Cuộc bùng nổ Bong bóng, là do sự suy đồi đạo đức doanh nghiệp. Ông nói: “Khi giá chứng khoán tăng, thì những quy tắc hành động của các nhà quản lý đi xuống. Đến cuối những năm 1990, các CEO đang đi trên đường cao tốc đã không bị tắc đường. Có quá nhiều người hành động thật tệ hại, những con số gian lận và kéo theo những hành động ghê tởm để có được kết quả kinh doanh tầm thường”. Trong nhiều trường hợp, giám đốc của những công ty này, những người có nhiệm vụ gìn giữ lợi tức cổ đông, đã thất bại thảm hại.