Hướng dẫn đầu tư – Nguyên lý tài chính – P3

Lợi nhuận biên
Giống như Philip Fisher, Buffett nhận thức được rằng những doanh nghiệp lớn sẽ có những vụ đầu tư tồi tệ nếu ban quản lý không thể biến doanh thu thành lợi nhuận. Theo kinh nghiệm của ông, những nhà quản lý của hệ thống hoạt động chi phí cao có xu hướng tìm những cách để liên tục tăng tổng chi phí, trong khi các nhà quản lý của hệ thống hoạt động chi phí thấp luôn luôn tìm cách cắt giảm chi phí.
Buffett không mấy kiên nhẫn với những nhà quản lý để chi phí leo thang. Thường thì những nhà quản lý giống nhau này sẽ khởi xướng một chương trình cải tổ làm cắt giảm chi phí cho phù hợp với doanh thu. Mỗi lần công ty thông báo một chương trình cắt giảm chi phí, ông biết rằng công ty này không tìm ra trước các cổ đông các khoản chi. Buffett nói: “Nhà quản lý thực sự tốt sẽ không thức giấc vào buổi sáng và nói, ‘đây là ngày tôi cắt giảm chi phí’, mà anh ta thức giấc và quyết định luyện tập hít thở”.
Buffett hiểu quy mô nhân viên như thế nào là phù hợp cho doanh nghiệp và tin rằng với mỗi đô la doanh thu sẽ có một mức chi phí hợp lý. Ông đã lựa chọn Carl Reichard và Paul Hazen tại Wells Fargo để tấn công nghiêm khắc vào những chi phí không cần thiết. Ông nói: “Họ ghê tởm việc tiêu tốn phần chi phí nhiều hơn cần thiết, và tấn công chi phí ác liệt khi lợi nhuận ở mức kỷ lục cũng như khi dưới mức đặt ra”.
Bản thân Buffett không nhượng bộ khi bàn tới vấn đề chi phí và phí tổn không cần thiết, và ông cũng nhạy cảm với vấn đề lợi nhuận biên của Berkshire. Tất nhiên, Berkshire Hathaway là một công ty nổi trội. Berkshire Hathaway không có phòng luật pháp, phòng quan hệ đầu tư và công chúng, cũng không có phòng kế hoạch chiến lược được bố trí những nhân viên được đào tạo MBA chuyên thảo ra chiến lược mua lại và sáp nhập. Tổng chi phí hoạt động sau thuế của công ty thấp hơn 1% lợi nhuận hoạt động. Buffett nói, nếu so sánh con số này với những công ty khác, có cùng mức lợi nhuận nhưng 10% chi phí thì các cổ đông mất 9% giá trị cổ phần của họ chỉ đơn giản là do tổng chi phí.
Công ty Pampered Chef
Như đã đề cập, Doris Christopher sáng lập ra công ty này chỉ với 3 nghìn đô la đi vay từ hợp đồng bảo hiểm nhân thọ của gia đình bà và bà không bao giờ có thêm một khoản nợ nào khác nữa. Ngày nay, công ty đạt mức doanh thu trên 700 triệu đô la.
Khách hàng thanh toán cho sản phẩm trước khi giao hàng nên công ty luôn là một công ty có lượng tiền mặt dương. Alan Luce, Chủ tịch Công ty Luce & Associations tại Orlando, Florida, một công ty tư vấn bán trực tiếp, đã ước tính lợi nhuận biên trước thuế đạt mức trên 25%.
Công ty Coca-Cola
Năm 1980, lợi nhuận biên trước thuế của Coca-Cola ở mức thấp 12,9%. Mức này giảm trong năm năm liền và thấp hơn đáng kể mức biên năm 1973 của công ty là 18%. Trong năm đầu tiên của Goizueta, lợi nhuận biên trước thuế tăng lên 13,7% và đến năm 1998, khi Buffett mua cổ phiếu của Coca- Cola, lợi nhuận biên tăng tới mức kỷ lục 19%.
Công ty Washington Post
Sáu tháng sau khi Washington Post phát hành cổ phiếu lần đầu hồi năm 1971, Katherine Graham đã có cuộc gặp gỡ với các nhà phân tích chứng khoán Phố Wall. Bà nói với họ rằng đầu tiên là phải tối đa hoá lợi nhuận từ hệ thống hoạt động hiện tại của công ty. Lợi nhuận tiếp tục tăng tại các trạm thu phát truyền hình và tờ Newsweek, nhưng khả năng lợi nhuận của tờ báo đang có xu hướng thu hẹp lại. Bà nói, nguyên nhân căn bản là do chi phí sản xuất cao, ví dụ như tiền lương.
Sau khi mua tờ Times Herald, lợi nhuận của Washington Post tăng vọt. Mỗi lần công đoàn bãi công tờ báo (năm 1949, 1958, 1966, 1968, 1969), ban quản lý đều lựa chọn cách đáp ứng nhu cầu của họ, thay vì mạo hiểm ngừng hoạt động tạm thời. Suốt thời gian này, Washington Post vẫn là một trong ba tờ báo nổi tiếng nhất. Suốt những năm 1950 và 1960, chi phí nhân công tăng đã làm giảm lợi nhuận. Bà Graham nói với các nhà phân tích rằng, vấn đề này sẽ được giải quyết.
Trong những năm 1970, khi hợp đồng lao động bắt đầu hết hiệu lực, thì Graham lên danh sách những nhà đàm phán lao động kiên định với công đoàn. Năm 1974, công ty đánh bại một vụ bãi công của nhân viên tờ báo Guild và sau cuộc thương lượng kéo dài, công ty in đã chấp nhận ký kết một hợp đồng mới.
Thời gian đầu những năm 1970, Forbes viết: “Điều tốt đẹp nhất có thể nói về kết quả hoạt động của Washington Post đó là nó xếp hạng C danh dự về khả năng lợi nhuận”. Lợi nhuận biên trước thuế năm 1973 là 10,8%, thấp hơn hẳn lợi nhuận biên 15% trong lịch sử của công ty những năm 1960. Sau vụ thương lượng hợp đồng thành công, vận mệnh của công ty được cải thiện đáng kể. Tới năm 1978, lợi nhuận biên đạt mức 19,3%, tăng 80% trong vòng năm năm.
Lời dự đoán của Buffett đã trở thành sự thực. Tới năm 1988, lợi nhuận trước thuế của Washington Post đạt mức 31,8%, so với mức trung bình của ngành báo chí là 16,9% và chỉ số S&P là 8,6%. Mặc dù, trong những năm gần đây, lợi nhuận biên của công ty giảm đôi chút nhưng vẫn duy trì ở mức cao hơn đáng kể so với tỉ lệ trung bình của ngành.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s