Hướng dẫn đầu tư – Nguyên lý tài chính

Coca-Cola
Trong “Chiến lược những năm 1980”, kế hoạch tái sinh công ty, Goizueta chỉ ra rằng Coca-Cola sẽ không tham gia vào ngành kinh doanh nào không tạo ra lợi nhuận trên vốn cổ phần có thể chấp nhận được. Bất kỳ vụ đầu tư mới nào đều phải có tiềm năng tăng trưởng thực tế đáng kể.
Từ lâu, Coca-Cola quan tâm tới việc cạnh tranh giành cổ phiếu trên một thị trường trì trệ. Goizueta tuyên bố: “Tăng trưởng lợi nhuận trên cổ phiếu và tác động tới lợi nhuận trên vốn cổ phần vẫn là một cuộc cạnh tranh”. Những lời nói của ông sau đó đã biến thành hành động. Ngành kinh doanh rượu của Coca-Cola được chuyển nhượng cho Seagram vào năm 1983.
Mặc dù công ty thu được tỉ lệ lợi nhuận trên vốn cố phần ở mức đáng nể là 20% trong suốt những năm 1970, kết quả đó vẫn không hề gây ấn tượng gì đối với Goizueta. Ông yêu cầu tỉ lệ lợi nhuận cao hơn. Đến năm 1998, lợi nhuận trên vốn cổ phần của Coca-Cola đã tăng lên 31,8%.
Theo bất kỳ biện pháp đo lường nào, Coca-Cola của Goizueta cũng đều đạt kết quả tài chính gấp đôi và gấp ba so với kết quả dưới thời vị CEO trước. Những kết quả được nhìn nhận theo giá trị thị trường của công ty theo thời gian. Năm 1980, giá trị thị trường của Coca-Cola là 4,1 tỉ đô la. Đến cuối năm 1987, con số này tăng lên 14,1 tỉ đô la (xem hình 7.2). Trong bảy năm, giá trị thị trường của Coca-Cola tăng với tỉ lệ trung bình hàng năm là 19,3%.
Công ty Washington Post
Khi Buffett mua chứng khoán của Washington Post hồi năm 1973, lợi nhuận trên vốn cổ phần của công ty là 15,7%. Đây là mức lợi nhuận trung bình đối với hầu hết các tờ báo và chỉ cao hơn một chút so với chỉ số S&P.
Nhưng trong vòng năm năm, tỉ lệ lợi nhuận trên vốn cổ phần của Washington Post đã tăng gấp đôi. Lúc đó, tỉ lệ này cao gấp đôi so với chỉ số S&P và cao hơn 50% so với chỉ số trung bình của công ty báo chí. Sau 10 năm tiếp theo, công ty này đã duy trì được uy thế của mình, tiến tới tỉ lệ lợi nhuận trên vốn cổ phần đạt mức 36,3% vào năm 1998.
Tỉ lệ lợi nhuận trên vốn cổ phần đạt mức trung bình còn ấn tượng hơn khi bạn quan sát công ty đã dần dần chủ động giảm thiểu vay nợ. Năm 1973, tỉ lệ vay nợ dài hạn của công ty trên vốn cổ phần là 37,2%, tỉ lệ cao thứ hai trong ngành báo chí. Thật đáng kinh ngạc là đến năm 1978, Katherine Graham giảm 70% vay nợ của công ty. Năm 1983, nợ dài hạn trên vốn cổ phần dưới mức 2,7%, bằng 1/10 mức trung bình của công ty báo chí. Nhờ vậy, công ty tạo được mức lợi nhuận trên vốn cổ phần cao hơn 10% so với những công ty cùng ngành.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s