Hướng dẫn đầu tư – nguyên lý quản lý – P3

Clayton Homes
Trong một ngành công nghiệp đang bị bóp nghẹt bởi chính những vấn đề do nó tự tạo ra, thì Clayton nổi bật lên với đội ngũ quản lý hùng mạnh và mô hình kinh doanh thông minh.
Hiện tại, những ngôi nhà di động được sản xuất chiếm 15% trong tổng số nhà ở Mỹ. Xét trên nhiều khía cạnh, hình ảnh tiêu cực theo lịch sử của chúng đang biến mất. Những ngôi nhà di động ngày càng giống với những ngôi nhà được xây dựng kiên cố về kích cỡ và quy mô, chất lượng xây dựng được luôn được cải thiện, chúng đang cạnh tranh với những ngôi nhà cho thuê, chúng có những lợi thế về thuế mà theo đó người chủ ngôi nhà không phải sở hữu phần tài sản cơ bản, và việc thế chấp hiện tại đang được những công ty thế chấp lớn khác và các văn phòng chính phủ như Fannie Mae hỗ trợ.
Tuy vậy, do những ngôi nhà này rẻ hơn đáng kể so với nhà xây kiên cố (mức giá trung bình năm 2002 là 48 800 đô la so với 164 217 đô la), thị trường chính vẫn là những khách hàng của dòng sản phẩm giá thấp. Trong năm 2002, hơn 22 triệu người dân Mỹ sinh sống trong các ngôi nhà di động, với mức thu nhập gia đình trung bình là 26.900 đô la.
Trong những năm 1990, nhiều nhà sản xuất bị dính dáng tới một vụ việc rắc rối hai chiều do họ tự đặt ra cho mình, và rất nhiều người trong số họ thất bại. Một phần của rắc rối hai chiều này đó là sự chấp nhận ngày càng gia tăng và phổ biến của những ngôi nhà kiểu này, khiến nhiều công ty trong ngành đẩy mạnh việc quá mở rộng quy mô công ty. Nhân tố siết chặt khác đó là lòng tham.
Những ngôi nhà được bán thông qua những người bán lẻ, hoặc là những nhà buôn độc lập đại diện cho một số nhà sản xuất hoặc là những đại lý của riêng công ty. Chính tại đó, trong cùng một lô hàng, người mua thường thấy hoạt động huy động vốn, thường là một chi nhánh của nhà sản xuất/ người bán lẻ. Bán ồ ạt tạo ra lợi nhuận tức thì cho các nhà bản lẻ và phần hoa hồng khổng lồ cho các nhà môi giới. Nó cũng tạo ra những vấn đề kinh tế khổng lồ trong phạm vi xa hơn. Một thực tế đáng buồn là rất nhiều ngôi nhà được bán cho những người đang trong tình trạng kinh tế bấp bênh, và tỉ lệ tái sở hữu cao, làm giảm nhu cầu nhà mới. Khi tỉ lệ thất nghiệp tăng trong vài năm trước đây, thì các khoản vay phạm pháp cũng tăng. Nhân tố cung quá mức hàng tồn kho từ những năm 1990, và thời gian kinh tế thắt chặt mà đã thu hẹp chi tiêu trên mọi lĩnh vực, và làm tăng thêm tình trạng ảm đạm trong toàn ngành.
Phần lớn vấn đề đều bắt nguồn từ những khoản nợ xấu đang quá phổ biến trong ngành kinh doanh nhà. Vậy tại sao tất cả họ đều làm như vậy? Bởi vì mỗi công ty lo sợ bị mất thị phần nếu làm khác. Nói tóm lại, đó là tai hoạ của tính cưỡng chế tổ chức. Clayton không hoàn toàn thoát khỏi, nhưng cũng đã tránh được hầu hết những sai lầm nghiêm trọng.
Điều quan trọng nhất là, Clayton trả thù lao cho người bán hàng theo một cách khác. Phần hoa hồng của người bán hàng và người quản lý được tính toán không chỉ theo số lượng những ngôi nhà được bán mà còn dựa trên chất lượng và quá trình hoạt động của khoản vay. Đội ngũ nhân viên bán hàng chia sẻ gánh nặng tài chính khi khoản nợ không phát huy được tác dụng, và chia sẻ doanh thu khi các khoản vay hoạt động tốt. Ví dụ, một quản lý bán hàng đang phải giải quyết việc bán hàng và thu được tiền của một ngôi nhà di động trị giá 24 nghìn đô la. Nếu khách hàng không thể thanh toán, Clayton sẽ bị mất 25 nghìn đô la, và người quản lý phải chịu trách nhiệm đối với một nửa số tiền thua lỗ đó. Nhưng nếu khoản nợ hoạt động tốt, người quản lý cũng sẽ được một nửa số đó. Điều đó đẩy gánh nặng tránh các khoản nợ xấu lên vai nhân viên bán hàng.
Phương pháp thanh toán: Năm 2002, “chỉ có 2,3% số chủ sở hữu nhà với khoản thế chấp của Clayton là những kẻ phạm pháp 30 ngày”. Con số đó xấp xỉ một nửa tỉ lệ phạm pháp trong ngành. Cuối những năm 1990, khi hơn 80 nhà máy và bốn nghìn người bán lẻ bị phá sản, Clayton chỉ phải đóng cửa 31 cửa hàng bán lẻ và không hề đóng cửa nhà máy nào cả. Đến năm 2003, khi Buffett tham gia, Clayton đã thoát khỏi tình trạng suy thoái trong nền kinh tế nói chung và ngành công nghiệp sản xuất nhà di động nói riêng với vị thế mạnh mẽ hơn và tốt đẹp hơn bất kỳ đối thủ cạnh tranh nào.
Warren Buffett đã mua Clayton Homes bởi vì ông thấy Jim Clayton là một người năng động, chăm chỉ, thông minh và có kỹ năng quản lý tốt. Clayton không chỉ thể hiện một lần mà là tới hai lần rằng ông có thể vượt qua tình trạng suy thoái trong ngành bằng cách xây dựng mô hình kinh doanh của ông để tránh được tính cưỡng chế tổ chức cực kỳ tai hại.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s