Nguyên lý quản lý (P9)

Coca-Cola
Tăng trưởng dòng tiền thực cho phép Coca-Cola tăng cổ tức trả cho các cổ đông và cũng mua lại cổ phiếu của công ty trên thị trường tự do. Năm 1984, công ty mua lại cổ phiếu lần đầu tiên, thông báo công ty sẽ mua lại 6 triệu cổ phiếu. Kể từ đó, công ty đã mua lại hơn 1 tỉ cổ phiếu. Vụ mua lại này chiếm tới 32% cổ phiếu kể từ tháng Một năm 1984, ở mức giá trung bình là 12,46 đô la một cổ phiếu. Hay nói cách khác, công ty đã bỏ ra gần 12,4 tỉ đô la để mua cổ phiếu mà chỉ 10 năm sau chúng có giá thị trường xấp xỉ 60 tỉ đô la.
Tháng Bảy năm 1992, Coca-cola đã thông báo rằng trong suốt năm 2000, công ty sẽ mua lại 100 triệu cổ phiếu, chiếm 7,6% cổ phiếu của công ty. Đáng chú ý là, do khả năng tạo tiền mặt rất mạnh, công ty hoàn thành mục tiêu này trong khi vẫn tiếp tục đầu tư rất mạnh mẽ vào các thị trường khác.

sách dạy đầu tư chứng khoán

American Express

Buffett đã kết giao với American Express từ cách đây khoảng 40 năm khi ông dũng cảm mua lại số cổ phiếu đang rơi vào tình cảnh hiểm nghèo năm 1963 và sau đó ông nhanh chóng thu được lợi nhuận vô cùng lớn từ vụ đầu tư này (Đọc chi tiết câu chuyện tại Chương 1). Niềm tin Buffett dành cho công ty không hề thay đổi, và ông vẫn tiếp tục mua chứng khoán của nó. Vụ mua lớn hồi năm 1994 có thể xuất phát từ những quyết định vừa tốt vừa xấu của ban quản lý về việc sử dụng số tiền mặt dư thừa.

Bộ phận phát hành thẻ thanh toán và ngân phiếu du lịch của công ty – American Express Travel Related Services -đóng góp cổ phiếu có lợi nhuận lớn nhất. Bộ phận này cũng luôn tạo ra lợi nhuận chủ sở hữu đáng kể và tạo nguồn vốn giúp công ty tăng trưởng. Đầu những năm 1990, công ty đã tạo được nhiều tiền mặt hơn nhu cầu tiền mặt cho các hoạt động của công ty – một điểm rất quan trọng mà các quyết định quản lý mâu thuẫn với bài kiểm tra thử của Buffett. Trong trường hợp này, ban quản lý của American Express đã làm không được tốt lắm.

Sau đó, CEO James Robinson quyết định sử dụng số tiền mặt dư thừa để xây dựng công ty thành một tập đoàn dịch vụ tài chính hùng mạnh bằng cách mua lại các công ty có liên quan khác. Vụ chuyển nhượng đầu tiên của ông, công ty dịch vụ tài chính IDS, đã đem về lợi nhuận. Nhưng sau đó, ông mua lại Shearson Lehman, và không thành công. Shearson ngày càng cần nhiều tiền mặt hơn để chi cho hoạt động của công ty. Khi Shearson ngốn mất 4 tỉ đô la, Robinson đã liên lạc với Buffett – người đã đồng ý mua số cổ phiếu ưu đãi với giá 300 triệu đô la. Cho tới khi công ty tìm lại được đường lối hoạt động đúng đắn, ông cũng không hề quan tâm tới việc mua cổ phiếu thường.

Năm 1992, Robinson đột ngột từ chức và Harvey Golub lên thay thế. Ông đặt ra cho bản thân mình nhiệm vụ trước nhất là phải củng cố nhận dạng nhãn hiệu của công chúng. Đáng chú ý là một giọng điệu quen thuộc với Buffett, ông bắt đầu sử dụng các thuật ngữ như Nhượng quyền kinh doanh hay Giá trị nhãn hiệu -Brand value để mô tả American Express Card – American Express. Hai năm sau, Golub bắt đầu thanh lý các tài sản hư hỏng của công ty và khôi phục khả năng lợi nhuận và lợi nhuận trên vốn cổ phần cao. Một trong những hành động đầu tiên của ông là xoá bỏ hoàn toàn Shearson Lehman với nhu cầu vốn ồ ạt của nó.

American Express nhanh chóng cho thấy những dấu hiệu về khả năng lợi nhuận của nó. Các nguồn lực của công ty chắc chắn đứng đằng sau mục tiêu xây dựng American Express thành một “nhãn hiệu dịch vụ được kính trọng nhất thế giới” của Golub, và mỗi thông tin từ công ty truyền đi đều nhấn mạnh giá trị nhượng quyền kinh doanh của tên gọi “American Express”.

Tiếp theo Golub đặt ra các mục tiêu tài chính cho công ty: phải tăng lợi nhuận trên một cổ phiếu từ 12 đến 15% mỗi năm và từ 18 đến 20% lợi nhuận trên vốn. Trước đó khá lâu, công ty một lần nữa lại tạo tiền mặt dư thừa và có nhiều vốn hơn, nhiều cổ phiếu hơn nhu cầu. Sau đó, vào tháng Chín năm 1994, công ty thông báo rằng, do các điều kiện thị trường, công ty có kế hoạch mua lại 20 triệu cổ phiếu từ số chứng khoán thường. Đó là một điệu nhạc du dương rót vào tai Buffett.

Mùa hè năm đó, Buffett chuyển đổi các cổ phần của Berkshire từ chứng khoán ưu đãi thành chứng khoán phổ thông. Ngay sau đó, ông bắt đầu mua lại thậm chí nhiều hơn. Cuối năm đó, Berkshire sở hữu 27 triệu đô la cổ phiếu. Tháng Ba năm 1995, Buffett đã thêm vào danh mục của ông 20 triệu cổ phiếu nữa, Năm 1997, ông tiếp tục thêm vào 49,5 triệu nữa; và đến năm 1998 là 50,5 triệu. Cuối năm 2003, Berkshire sở hữu hơn 151 triệu cổ phiếu của American Express, chiếm gần 12% công ty, với giá thị trường là hơn 7 tỉ đô la gấp bảy lần số tiền Buffett bỏ ra để mua chúng.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s