Ví dụ điển hỉnh Benjamin Moore, 2000 (P2)

Khi nghiên cứu Benjamin Moore, Buffett cũng thấy đây là một công ty hoạt động tốt. Mặc dù cách đây vài năm người ta vẫn còn băn khoăn về chiến lược bán lẻ của Moore, công ty đã tiến hành một chương trình trẻ hoá nhãn hiệu tại Mỹ và Canada. Benjamin Moore tăng lượng bán lẻ tại các cửa hàng độc lập bằng chương trình Singature Store và mua một số cửa hàng bán lẻ như cửa hàng Janovic đặt tại Manhattan. Chỉ trước vụ mua lại của Berkshire hồi năm 2000, công ty đã tiến hành một chương trình giảm thiểu chi phí và hợp lý hoá nhằm mục đích cải thiện hệ thống hoạt động của công ty.

Warren buffett khoi nghiep

Tất cả các chương trình đó làm tăng thêm triển vọng tốt đẹp trong dài hạn của công ty. Benjanmin Moore là một ví dụ điển hình về một công ty đã biến một sản phẩm thành sản phẩm nhượng quyền kinh doanh. Định nghĩa của Buffett về quyền kinh doanh là nơi một sản phẩm được khách hàng mong muốn có hoặc cần có, không có sản phẩm thay thế nào gần giống nó cả, và không được kiểm soát. Hầu hết mọi người trong ngành xây dựng đồng ý rằng Moore là ông chủ trong cả ba loại. Xem xét kho chứa của hơn 100 nhà
hoá học, kỹ sư hoá, kỹ thuật viên và nhân viên hỗ trợ của công ty duy trì những tiêu chuẩn sản phẩm nghiêm ngặt của công ty và phát triển sản phẩm mới, có thể thấy rằng nguy cơ sản phẩm sơn của Benjamin Moore trở thành thứ hàng hoá dễ bị diệt vong là không đáng kể. Benjamin Moore tiến hành kiểm tra gay gắt đối với tất cả các sản phẩm của mình cho thấy họ tiếp tục đặt ra các tiêu chuẩn trong ngành. Cuối cùng, mặc dù các sản phẩm của Benjamin Moore không rẻ, nhưng chất lượng của chúng điều khiển sức mạnh giá cả đánh bại bất kỳ khái niệm lạm phát nào.

Năm 1969, Buffett mua tờ báo quan trọng đầu tiên, tờ Omaha Sun, cùng với một nhóm những tờ báo tuần khác; từ những tờ báo này, ông học được sự năng động trong kinh doanh một tờ báo. Ông có bốn năm kinh nghiệm thực tế điều hành một tờ báo trước khi mua cổ phiếu đầu tiên của Washington Post.

Wells Fargo

Buffett hiểu rất rõ ngành ngân hàng. Trong năm 1969, Berkshire mua 98% Ngân hàng Quốc gia Illinois và Trust Company và nắm giữ nó cho tới năm 1979 khi Luật cổ phần ngân hàng yêu cầu Berkshire phải gạt bỏ toàn bộ lợi tức của công ty.

Cũng như Jack Ringwalt giúp Buffett hiểu sự rắc rối phức tạp của ngành kinh doanh bảo hiểm (xem Chương 3), chính Gene Abegg – Chủ tịch Hội đồng Quản trị của Ngân hàng Quốc gia Illinois đã dạy Buffett về kinh doanh ngân hàng. Ông biết rằng, các ngân hàng sẽ kinh doanh có lãi chỉ cần khoản cho vay được đưa ra một cách có trách nhiệm và các chi phí được giảm thiểu. Một ngân hàng được quản lý tốt không chỉ có thể tăng lợi nhuận mà còn thu được một số lợi tức trên vốn cổ phần.

Xem thêm: Chứng quyền là gì

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s