Công ty Gillette

Gillette là một công ty sản xuất sản phẩm tiêu dùng quốc tế, sản xuất và phân phối lưỡi và dao cạo râu, đồ trang điểm, và mỹ phẩm, văn phòng phẩm, máy cạo râu điện, những đồ gia dụng lặt vặt, và những đồ dùng và sản phẩm chăm sóc răng miệng. Công ty có hệ thống sản xuất tại 14 quốc gia trên thế giới và phân phối sản phẩm tới hơn 200 công ty và vùng lãnh thổ. Hệ thống sản xuất nước ngoài chiếm hơn 63% doanh thu và lợi nhuận của Gillette.

khongbaogiodebimattien.jpg

King C. Gillette đã sáng lập ra Gillette vào thời kỳ chuyển giao của thế kỷ XX. Khi còn là một chàng trai, Gillette đã dành thời gian vạch ra chiến lược đổi đời. Một người bạn gợi ý rằng ông nên sáng chế ra một sản phẩm mà chỉ dùng một lần rồi vứt đi, và thay thế nó bằng cái khác. Trong khi làm nhân viên bán hàng cho Crown Cork & Seal, Gillette đã nảy ra ý tưởng sáng chế ra sản phẩm dao cạo râu chỉ dùng một lần. Trong năm 1903, công ty non trẻ của ông bắt đầu bán dao cạo râu an toàn với 25 lưỡi cạo râu chỉ dùng một lần với giá 5 đô la.

Ngày nay, Gillett là nhà sản xuất và phân phối lưỡi và dao cạo râu hàng đầu. Lưỡi dao cạo râu chiếm xấp xỉ 1/3 doanh thu bán hàng của công ty nhưng chiếm tới 2/3 lợi nhuận của công ty. Thị phần trên toàn cầu của công ty là 72,5%, gấp gần sáu lần đối thủ cạnh tranh gần nhất. Công ty này chiếm 70% thị phần tại châu Âu, 80% tại châu Mỹ La tinh. Doanh thu bắt đầu tăng tại Đông ]u, Ấn Độ, và Trung Quốc. Cứ 1 lưỡi dao cạo Gillette bán được tại Mỹ, thì công ty sẽ bán được 5 chiếc ở thị trường nước ngoài. Thực tế, Gilllette phổ biến trên toàn thế giới đến nỗi trong nhiều ngôn ngữ tên của hãng trở thành từ để chỉ “lưỡi dao cạo râu”.

Buffett bắt đầu quan tâm tới Gillette từ những năm 1980. Các nhà quan sát Phố Wall bắt đầu xem công ty là một nhà sản xuất hàng tiêu dùng chậm phát triển, đang ở giai đoạn chín muồi để mua lại. Lợi nhuận biên dao động giữa 9% và 11%, lợi nhuận thu được trên vốn dàn trải ra mà không hề có dấu hiệu cải thiện, và tăng trưởng lợi nhuận và giá trị thị trường giảm đáng kể (xem hình 4.1 và 4.2). Nói tóm lại, công ty có dấu hiệu trìtrệ.

CEO Colman Mcokler đã đánh bại bốn dự định mua lại trong suốt thời gian đó, lên tới đỉnh cao là cuộc chiến hết sức gay cấn chống lại Coniston Partners hồi năm 1988. Gillette chiến thắng trong gang tấc, nhưng việc đó cũng buộc công ty phải mua lại 19 triệu cổ phiếu của Gillette với giá 45 đô la một cổ phiếu. Giữa năm 1986 và năm 1988, công ty đã thay thế 1,5 tỉ đô la số vốn cổ đông bằng nợ, và trong một thời gian ngắn, Gillette rơi vào tình trạng vốn ròng âm.

Lúc đó, Buffett gọi cho người bạn Joseph Sisco của ông, là thành viên của Hội đồng Quản trị Gillette, gợi ý rằng Berkshire sẽ đầu tư vào công ty. Buffett nói: “Ngành kinh doanh của Gillette là ngành chúng tôi rất thích”.

“Charlie và tôi nghĩ rằng chúng tôi hiểu tình trạng kinh tế của công ty và vì vậy, tin rằng chúng tôi có thể phỏng đoán khá thông minh về tương lai của Gillette”. Gillette đã phát hành 600 triệu đô la cổ phiếu ưu đãi có thể chuyển đổi cho Berkshire vào tháng Bảy năm 1989 và sử dụng quỹ để trả dần nợ nần. Buffett đã nhận được 8,75% chứng khoán ưu đãi có thể chuyển đổi với quy định bắt buộc phải thanh toán hết nợ trong vòng 10 năm và sự lựa chọn chuyển thành cổ phiếu thường của Gillette với giá 50 đô la một cổ phiếu, cao hơn 20% so với mức giá ở thời kỳ đó.

Năm 1989, Buffett tham gia Ban Giám đốc của Gillette. Cùng năm đó, công ty giới thiệu một sản phẩm mới rất thành công, sản phẩm Senor. Đó là khởi đầu cho bước ngoặt của công ty. Doanh thu của Senor đã mở rộng triển vọng của Gillette. Lợi nhuận trên mỗi cổ phiếu bắt đầu tăng 20% một năm. Lợi nhuận biên trước thuế tăng từ 12% lên 15% và lợi nhuận trên vốn cổ phần đạt mức 40%, gấp hai lần lợi suất đầu những năm 1980.

Tháng Hai, năm 1991, công ty thông báo một đợt chia cổ phiếu với tỉ lệ 2: 1. Berkshire đã chuyển số cổ phiếu ưu đãi và thu được 12 triệu cổ phiếu thường, hay 11% số cổ phiếu nợ còn tồn của Gillette. Chỉ trong vòng chưa đầy hai năm, vụ đầu tư 600 triệu đô la của Berkshire vào Gillette đã tăng lên 875 triệu đô la. Bước tiếp theo của Buffett là tính toán giá trị của 12 triệu cổ phiếu đó. Trong Chương 8, chúng ta biết ông tiến hành việc này.

Ngành kinh doanh lưỡi dao cạo râu của Gillette hưởng lợi chính từ quá trình toàn cầu hoá. Điển hình là, Gillette bắt đầu với với những chiếc lưỡi dao cạo chất lượng thấp và dần dần giới thiệu những hệ thống cạo râu cải tiến. Công ty thu được lợi nhuận không chỉ từ việc tăng doanh thu đơn vị mà còn từ việc cải thiện và ổn định lợi nhuận biên. Tương lai của Gillette có nhiều dấu hiệu tươi sáng. Buffett nói: “Chúng ta có thể vui vẻ đi ngủ mỗi tối khi biết rằng có 2,5 tỉ người đàn ông trên thế giới sẽ phải cạo râu vào buổi sáng hôm sau”.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s