Ngày: Tháng Sáu 3, 2019

NGÀNH KINH DOANH CHÍNH CỦA CHÚNG TÔI LÀ BẢO HIỂM (P7)

Warren Buffett vốn nổi tiếng là người luôn giữ vững lập trường. Với “thương hiệu” là người ngay thẳng, ông là người đầu tiên thừa nhận rằng ông không hề thấy GenRe có vấn đề gì cả. Đối với những người quan sát Warren Buffett, bản thân nhận định đó là một sự thú vị kỳ lạ. Đó là trường hợp mà một người lão luyện như Buffett có thể bỏ qua những vấn đề phức tạp của ngành bảo hiểm. Nếu những vấn đề đó rõ ràng, tôi chắc chắn rằng Buffett sẽ không trả cái giá mà ông đã dành cho GenRe. Tuy vậy, tôi cũng khá chắc chắn rằng ông sẽ tiếp tục bởi vì tầm nhìn của ông luôn hướng về dài hạn.

Ngành tái bảo hiểm mở ra tiềm năng khổng lồ, và một công ty tái bảo hiểm hoạt động tốt sẽ tạo ra giá trị khổng lồ cho các cổ đông. Buffett hiểu rõ điều đó hơn bất kỳ ai. Vì vậy, mặc dù sai lầm khi định giá của GenRe gây ra những vấn đề trong ngắn hạn, và mặc dù ông đã “mua” những vấn đề này cùng với công ty, điều này không phủ nhận kết luận cơ bản của ông rằng một công ty tái bảo hiểm được quản lý tốt tạo giá trị lớn cho Berkshire. Trong một tình huống như thế này, bản năng của Buffett là sẽ khắc phục vấn đề, chứ không từ bỏ công ty đi.

Như vẫn thường làm, Buffett tin tưởng những nhà quản lý của công ty với bảo hiểm đang dần được khôi phục thông qua định giá hợp lý những hợp đồng bảo hiểm và đặt ra mức dự trữ tương đối đủ. Dưới sự quản lý của họ, ông đã viết trong thư gửi cổ đông năm 2003, General Re “sẽ là một phương tiện mạnh mẽ thúc đẩy khả năng lợi nhuận trong tương lai của Berkshire”.

Trong bức thư này, General Re là một trong hai công ty tái bảo hiểm toàn cầu quan trọng duy nhất được xếp hạng AAA (hạng cao nhất). Công ty còn lại cũng là một công ty của Berkshire: The National Indemnity Reinsurance Operation (Công ty tái Bảo hiểm Bồi thường Quốc gia)

Tập đoàn tái bảo hiểm Berkshire Hathaway

Công ty tái bảo hiểm Bồi thường Quốc gia thuộc Berkshire ngày nay rất khác biệt so với công ty mà Buffett mua lại năm 1967. Điểm khác biệt đó là cách tổ chức hoạt động và quy mô chứ không chỉ khác biệt trong triết lý kinh doanh cơ bản.

Một bộ phận của Công ty Bồi thường Quốc gia trước đây không tồn tại dưới thời của người sáng lập ra nó – Jack Ringwalt – là bộ phận tái bảo hiểm. Ngày nay, bộ phận này, được điều hành từ văn phòng của Công ty Bồi thường Quốc gia tại Stamford, Connecticut, đóng góp tích cực vào tổng doanh thu của Berkshire.

NGÀNH KINH DOANH CHÍNH CỦA CHÚNG TÔI LÀ BẢO HIỂM (P6)

Đó chính là điều đã xảy ra với GenRe, mặc dù lúc đầu không hẳn là như vậy. Ngay đầu năm 1999, Buffett đã nhận ra rằng các hợp đồng bảo hiểm được bán với giá thấp hơn quy định, và ông bắt đầu chỉnh sửa lại sai lầm này. Tuy vậy, những ảnh hưởng của sự thay đổi này không thể một sớm một chiều mà có được. Năm 2000, General Re đã trải qua một vụ thua lỗ bảo hiểm trị giá 1,6 tỉ đô la, tạo ra chi phí thả nổi lên tới 6%. Tuy vậy, Buffett cảm thấy có thể báo cáo trong thư gửi cổ đông năm 2000 rằng tình thế đang dần được cải thiện và ông mong đợi xu hướng phát triển sẽ xảy ra, Sau đó, trong một khoảnh khắc khủng khiếp, ông thêm vào một câu mà không hề có ý định trước: “Trừ khi không có thảm hoạ khủng khiếp nào, chúng ta kỳ vọng chi phí thả nổi sẽ giảm trong năm 2001”.

Khoảng sáu tháng sau, vào ngày 11 tháng Chín, nước Mỹ đã trải qua một thảm hoạ khủng khiếp mà chúng ta không bao giờ tưởng tượng được.

Trong thư gửi cổ đông gửi kèm báo cáo quý III năm 2001, Buffett viết: “Một thảm hoạ khủng khiếp không có gì đáng ngạc nhiên nữa. Đôi khi nó xảy ra, và lần này không phải là lần cuối cùng của chúng ta”.

Buffett ước tính thiệt hại phải bồi thường của Berkshire từ vụ tấn công khủng bố ngày 11 tháng Chín lên tới 2.275 tỉ đô la, trong đó 1,7 tỉ đô la là của General Re. Mức độ thiệt hại đã châm ngòi một sự thay đổi cho GenRe. Họ đã nỗ lực hơn để đảm bảo những hợp đồng bảo hiểm được định giá chuẩn xác, và số tiền dự trữ được giữ lại đủ để thanh toán các vụ bồi thường. Sự thay đổi, sửa đổi này đã thành công. Năm 2002, sau năm năm thua lỗ, GenRe đã báo cáo khoản lợi nhuận bảo hiểm đầu tiên của công ty, là động lực để Buffett thông báo trong cuộc họp Hội đồng Quản trị thường niên năm 2002: “Chúng ta đã trở lại”.

NGÀNH KINH DOANH CHÍNH CỦA CHÚNG TÔI LÀ BẢO HIỂM (P5)

Điều thay đổi quan trọng duy nhất theo sát quá trình sáp nhập đó là sự biến mất của đơn vị đầu tư General Re. Khoảng 150 người có quyền quyết định đầu tư các quỹ của công ty vào đâu, chúng được thay thế bởi một cá nhân duy nhất. Đó chính là Warren Buffett.

Chỉ sau khi Berkshire mua lại General Re, công ty trải qua một trong những năm tồi tệ nhất. Năm 1999, GenRe thanh toán số tiền bồi thường từ những thảm hoạ thiên nhiên (mưa đá ở Australia, những trận động đất ở Thổ Nhĩ Kỳ, và một loạt cơn bão khốc liệt ở Châu Âu), từ vụ cháy nhà lớn nhất trong lịch sử, và sự thất bại của một công ty chiếu phim danh tiếng (công ty đã mua bảo hiểm số hoá đơn bán vé). Vấn đề trở nên tồi tệ hơn khi GenRe tham gia một nhóm các nhà bảo hiểm và tái bảo hiểm dính líu vào vụ lộn xộn đền bù công nhân mà cuối cùng kết thúc bằng một vụ tranh chấp phức tạp và khoản thiệt hại hữu hình xấp xỉ 275 triệu đô la trong hai năm hoạt động (1998 và 1999).

Vấn đề sau đó được làm sáng tỏ là do GenRe đã bán phá giá sản phẩm của mình. Hãy nhớ rằng, số phí bảo hiểm thu vào cuối cùng sẽ được thanh toán cho những người có hợp đồng bảo hiểm được bồi thường. Khi phải thanh toán nhiều hơn số tiền thu được, kết quả sẽ là vụ bảo hiểm thua lỗ. Tỉ lệ thua lỗ so với số phí bảo hiểm nhận được trong một năm bất kỳ được gọi là chi phí thả nổi cho năm đó. Khi cả hai phần của công thức cân bằng nhau, chi phí thả nổi bằng 0 là một điều tốt cho công ty. Thậm chí còn tốt hơn nếu tỉ lệ đó thấp hơn con số 0, hay chi phí thả nổi âm, điều này xảy ra khi tiền phí mua bảo hiểm thu được vượt xa số tiền thanh toán bồi thường thiệt hại, tạo ra lợi nhuận bảo hiểm. Điều này muốn nói tới chi phí thả nổi âm, nhưng thực tế thì nó luôn dương: Công ty bảo hiểm được thanh toán để giữ vốn.

Phần thả nổi là một điều tuyệt vời, Buffett thường nhận xét như vậy, trừ khi nó trở thành một chi phí quá cao. Tiền phí bảo hiểm thu được quá thấp, hoặc thiệt hại phải bồi thường cao bất thường sẽ gây tác động xấu cho chi phí thả nổi. Khi cả hai đồng thời xảy ra, chi phí thả nổi sẽ tăngvọt.

NGÀNH KINH DOANH CHÍNH CỦA CHÚNG TÔI LÀ BẢO HIỂM (P4)

General Re Corporation

Năm 1996, Buffett chi 2,3 tỉ đô la để mua một nửa còn lại của GEICO mà ông chưa sở hữu. Hai năm sau, ông đã chi gấp bảy lần số tiền đó, vào khoảng 16 tỉ đô la trị giá cổ phiếu của Berkshire Hathaway để mua lại một công ty bảo hiểm mang tên General Re. Đó là vụ mua lại lớn nhất từ trước tới nay. Một số người gọi nó là sự kiện lớn nhất trong lịch sử Berkshire.

Tái bảo hiểm là một lĩnh vực của ngành bảo hiểm không được nhiều người biết  đến, do  nó không  liên quan đến những  sản phẩm quen thuộc  trong cuộc sống, sở hữu nhà cửa, hoặc bảo hiểm tự động. Theo cách hiểu đơn giản nhất, các công ty tái bảo hiểm bảo hiểm các công ty bảo hiểm khác. Mặc dù một bản hợp đồng không giải thích rõ ràng phí bảo hiểm và phần thua lỗ được chia như thế nào, một công ty tái bảo hiểm phải chịu trách nhiệm một tỉ lệ phần trăm nào đó phần rủi ro của công ty bảo hiểm. Điều này khiến nhà tái bảo hiểm ban đầu phải chịu mức độ rủi ro cao hơn, giảm thiểu nhu cầu vốn hoạt động, và giảm bớt tỉ lệ thua lỗ.

Về phần mình, nhà tái bảo hiểm nhận được một phần phí bảo hiểm, để đầu tư nếu công ty thấy hợp lý. General Re chủ yếu là đầu tư vào trái phiếu. Thực tế điều này là một phần quan trọng trong chiến lược mua lại công ty của Buffett.

Khi Buffett mua lại công ty, General Re sở hữu gần 19 tỉ đô la trị giá trái phiếu, 5 tỉ đô la trị giá cổ phiếu, và 15 tỉ đô la tiền thả nổi. Bằng cách sử dụng cổ phiếu của Berkshire để mua lại công ty và danh mục trái phiếu nặng ký của nó, chỉ bằng thao tác đơn giản, Buffett đã chuyển cán cân toàn bộ số cổ phần của Berkshire từ 80% cổ phiếu xuống 60%. Cuối năm 1998, Sở Thuế vụ (IRS) đưa ra quy định sáp nhập không bao hàm phần lợi nhuận vốn, điều đó có nghĩa là ông đã cố gắng “bán” gần 20% cổ phần của Berkshire, vì vậy không tránh sự biến động giá cả tồi tệ nhất, về bản chất là miễn thuế.

NGÀNH KINH DOANH CHÍNH CỦA CHÚNG TÔI LÀ BẢO HIỂM (P4)

Mặc dù cũng gặp phải một vài khó khăn, nhưng niềm tin của Buffett vào nền tảng cơ bản của GEICO phần nào được đền đáp. Từ năm 1996 tới năm 2003, thị phần của công ty tăng từ 2,7% lên 5%. Thời gian khó khăn nhất đó là vào năm 2000, khi nhiều khách hàng bảo hiểm của công ty chuyển sang sử dụng dịch vụ của các nhà cung cấp khác, và một chiến dịch quảng cáo cực kỳ rầm rộ (tiêu tốn khoảng 260 triệu đô la) đã thất bại, không tạo ra nhiều hợp đồng kinh doanh mới như dự kiến.

Mọi thứ bắt đầu ổn định dần vào năm 2001, và sang năm 2002, GEICO quay trở lại đúng quỹ đạo hoạt động, với mức tăng trưởng đáng kể trên thị trường cổ phiếu cũng như lợi nhuận. Năm đó, GEICO thu được 6,9 tỉ đô la tiền phí bảo hiểm, một bước nhảy vọt so với con số 2,9 tỉ đô la hồi năm 1996, năm Berkshire mua lại toàn bộ công ty. Tháng Tư năm 2003, công ty đạt được một bước ngoặt lịch sử với hợp đồng bảo hiểm thứ 5 triệu. Cuối năm 2003, 5 triệu người có hợp đồng bảo hiểm này nộp tổng số phí bảo hiểm là 8,1 tỉ đô la.

Do lợi nhuận biên tăng, người có hợp đồng bảo hiểm càng trung thành hơn với công ty, nên GEICO tập trung vào xây dựng những mối quan hệ lâu dài với khách hàng. Khi Buffett tiếp quản công ty vào năm 1996, ông đưa ra một hệ thống khuyến khích mới để thưởng cho sự tập trung này. Một nửa số tiền thường và tiền chia lãi dựa trên những hợp đồng có ít nhất một năm tuổi, nửa còn lại dựa vào sư gia tăng của người tham gia bảohiểm.

Trung bình mỗi khách hàng của GEICO có nhiều hơn một phương tiện được bảo hiểm, đóng phí bảo hiểm khoảng 1.100 đô la hàng năm, nhưng duy trì một hồ sơ tuyệt vời. Như Buffett từng chỉ ra nguyên lý kinh tế của công thức đó thật đơn giản: “Tiền đổ về thay vì chảy ra ngoài”.

Từ thỏa thuận ban đầu là 2 đô la một cổ phiếu hồi năm 1976, Buffett đã trả gần 70 đô la một cổ phiếu cho phần còn lại của công ty trong năm 1996. Ông không đưa ra lời biện hộ nào. Ông coi GEICO là công ty duy nhất có tiềm năng vô hạn, và điều này rất đáng giá. Ở khía cạnh này, theo Charlie Munger – cộng sự có ảnh hưởng sâu sắc tới Buffett, nếu bạn muốn sở hữu những công ty có triển vọng nhất, bạn phải sẵn sàng trả hết khi người ta sẵn sàng bán chúng.

Nếu hiểu mối quan hệ công việc gần gũi của họ, chúng ta có thể nói rằng Munger có ảnh hưởng rất lớn đến quyết định liên quan đến bảo hiểm lớn khác của Berkshire.

NGÀNH KINH DOANH CHÍNH CỦA CHÚNG TÔI LÀ BẢO HIỂM (P3)

Suốt những năm 1950 và 1960, GIECO rất phát triển. Nhưng sau đó, công ty bắt đầu rơi vào tình trạng hỗn loạn. Trong vài năm, công ty cố gắng mở rộng nền tảng khách hàng thông qua bán hạ giá và nới lỏng những yêu cầu thích hợp, và trong hai năm liền, công ty tính toán sai nghiêm trọng lượng tiền dự trữ cần thiết (ngoài khoản tiền dùng để trả tiền bồi thường). Hậu quả là, vào khoảng giữa những năm 1970, công ty từng vang bóng một thời gần như phá sản.

Năm 1976, khi giá cổ phiếu giảm từ 61 đô la xuống còn 2 đô la một cổ phiếu, Warren Buffett bắt đầu mua. Suốt khoảng thời gian năm năm, với niềm tin kiên định rằng đó là một công ty hùng mạnh với những lợi thế cạnh tranh nền tảng bền vững, Buffett đã đầu tư 45,7 triệu đô la vào GEICO.

Ngay trong năm sau, năm 1977, công ty lại làm ăn có lãi. Suốt hai thập kỷ tiếp theo, GEICO có tỉ lệ bảo hiểm dương có nghĩa là công ty thu được tiền phí bảo hiểm nhiều hơn số tiền thanh toán bồi thường bảo hiểm – hàng năm chứ không chỉ có một năm. Trong ngành bảo hiểm, khi đó tỉ lệ âm là chuyện thường không phải là ngoại lệ, loại hồ sơ bảo hiểm như của GEICO hầu như không được biết tới. Với sự quản lý hết sức thông minh của Lou Simpson, một người đàn ông có tên tuổi khiến GEICO thu được những nguồn đầu tư cực kỳ lớn.

Đến năm 1991, Berkshire sở hữu gần một nửa (48%) cổ phần của GEICO. Kết quả hoạt động đầy ấn tượng của công ty bảo hiểm, cùng sự quan tâm của Buffett dành cho công ty, ngày càng tăng. Trong năm 1994, bắt đầu xuất hiện những buổi thảo luận nghiêm túc về việc Berkshire mua lại toàn bộ công ty, và trong năm tiếp theo, bản hợp đồng cuối cùng đã được thông báo. Tại thời điểm đó, Berkshire sở hữu 51% cổ phần của GEICO, và chấp nhận mua nốt phần còn lại với giá 2,3 tỉ đô la. Đó là thời điểm hầu hết các công ty trong ngành bảo hiểm phải rất khó khăn mới thu được lợi nhuận và hầu hết các nhà đầu tư đều giữ khoảng cách với đa số các công ty trong ngành. Toàn bộ công việc trên giấy tờ hoàn tất vào đầu năm 1996. Từ đó, Berkshire Hathaway chính thức sở hữu GEICO và quản lý độc lập với các công ty cổ phẩn bảo hiểm khác của Berkshire Hathaway.

NGÀNH KINH DOANH CHÍNH CỦA CHÚNG TÔI LÀ BẢO HIỂM (P3)

Đối với một người lựa chọn chứng khoán theo mùa như Buffett, đó là một phép toán hoàn hảo. Chỉ trong vòng hai năm, ông tăng danh mục chứng khoán và cổ phiếu kết hợp của hai công ty từ 31,9 triệu đô la lên gần 42 triệu đô la.

Cùng thời điểm đó, những công ty bảo hiểm hoạt động tương đối tốt. Chỉ trong vòng một năm, lợi nhuận ròng của Công ty Bồi thường Quốc gia tăng từ 1,6 triệu đô la lên đến 2,2 triệu đô la.

Thành công bước đầu của Buffett trong ngành bảo hiểm đã dẫn đường cho ông mở rộng tập đoàn này. Trong thập kỷ tiếp theo, ông mua thêm ba công ty bảo hiểm nữa. Ông không hề đi chậm lại. Tới năm 2004, Berkshire sở hữu 38 công ty bảo hiểm, bao gồm hai đại gia khổng lồ, Government Employees Insurance Company (GEICO) và General Re, mỗi công ty có rất nhiều chi nhánh.

Công ty bảo hiểm GEICO

Trước hết, Warren Buffett biết đến GEICO từ khi còn là sinh viên tại Columbia vì thầy giáo của ông – Ben Graham – là Tổng Giám đốc. Niềm say mê tri thức của Buffett thể hiện trong câu chuyện của một sinh viên trẻ tuổi tới thăm văn phòng của công ty vào một buổi sáng thứ Bảy và đập cửa thình thịch cho tới khi người gác cửa cho anh ta vào. Sau đó, Buffett mất năm tiếng đồng hồ để có được một buổi đào tạo về ngành kinh doanh bảo hiểm từ một người duy nhất làm việc trong ngày hôm đó: Lorinmer Davidson, nhân viên đầu tư sau này trở thành CEO của công ty. Điều ông học được đã kích thích trí tò mò của ông.

GEICO được thành lập dựa trên hai khái niệm đơn giản nhưng công bằng: Nếu bạn chỉ bảo hiểm những người có hồ sơ tốt bạn sẽ mất ít tiền bồi thường hơn. Nếu bạn bán trực tiếp cho khách hàng, không thông qua các đại lý, bạn sẽ giảm thiểu được tổng chiphí.
Trở về quê hương Omaha và làm việc cho công ty môi giới của cha ông, một chàng trai rất trẻ như Warren Buffett đã viết một bài báo về GEICO cho một tạp chí tài chính. Ông đã viết: “Có lý do để tin rằng tỉ lệ tăng trưởng nằm ở phía trước”. Buffett đầu tư 10.282 đô la vào công ty, rồi năm sau bán đi và thu được 50% lợi nhuận. Tuy nhiên, ông vẫn luôn theo dõi sát sao hoạt động của công ty.