Ngày: Tháng Sáu 3, 2019

Mua một doanh nghiệp (P4)

Tháng Một năm 1986, Buffett trả 315 triệu đô la tiền mặt để mua Scott & Fetzer, một tập đoàn gồm 21 công ty nhỏ, bao gồm cả nhà sản xuất máy hút bụi Kirby và bách khoa toàn thư World Book. Cho tới thời điểm đó, đây là một trong những vụ mua bán lớn nhất của Berkshire, vượt qua sự mong đợi lạc quan của Buffett. Đó là mô hình của một tổ chức có lợi nhuận trên vốn lớn nhờ phát hành cổ phiếu và có số nợ không đáng kể, đó là một trong những đặc điểm mà Buffett ưa thích. Thực tế, ông tính toán rằng, khoản lợi nhuận trên vốn của Scott Fetzer dựa vào phát hành cổ phiếu sẽ dễ dàng đặt nó vào top 1% trong bảng xếp hạng Fortune 500.

Rất nhiều công ty của Scott Fetzer đưa ra một danh mục những sản phẩm công nghiệp chuyên môn hoá (một số người cho rằng thật nhàm chán), nhưng chúng thực sự mang lại tiền cho Berkshire Hathaway. Do Buffett mua nó, Scott Fetzer đã phân phối trên 100% phần tiền lãi của nó cho Berkshire, trong khi đồng thời tiếp tục tăng lợi nhuận.

Trong những năm gần đây, Warren Buffett đã chuyển sự quan tâm của Berkshire tới các công ty, thay vì cổ phiếu như trước đây. Bản thân câu chuyện về cách thức Buffett mua lại những công ty đa dạng này quả là thú vị. Có lẽ nên nói kỹ hơn về điểm này. Những câu chuyện giúp chúng ta hiểu biết sâu sắc giá trị trong cách thức đánh giá các công ty của Buffett. Trong chương này, chúng ta dành một khoảng thời gian để tìm hiểu đôi chút về ba trong số các vụ mua lại này. Dưới đây là một số ví dụ về các vụ mua lại gần đây minh hoạ cho một loạt các ngành rộng lớn trong tập đoàn Berkshire:

• Lợi tức của Loom, công ty sản xuất 1/3 số đồ lót nam bán trên thị trường Mỹ. Berkshire mua lại công ty này năm 2002 với giá 835 triệu đô la, sau khi tính toán phần lãi suất thu được trên khoản nợ giả, còn lại 730 triệu đôla.
• Garan, nhà sản xuất quần áo trẻ em, bao gồm cả dòng sản phẩm Garanimals nổi tiếng. Berkshire đã mua lại công ty này năm 2002 với giá 270 triệu đô la.
• Mitek, công ty sản xuất phần cứng cấu trúc cho ngành công nghiệp xây dựng, được Berkshire mua lại năm 2001 với giá 400 triệu đô la. Một phần thú vị của vụ mua lại này là hiện tại Berkshire chỉ sở hữu 90% công ty. 10% còn lại do 55 nhà quản lý yêu mến công ty và muốn trở thành chủ sở hữu của công ty nắm giữ. Tinh thần doanh nghiệp của của ban quản lý này là một trong những phẩm chất mà Buffett kiếmtìm.
• Larson-Juhl, nhà cung cấp vật liệu khung hàng đầu cho các cửa hàng khung theo đơn đặt hàng, được Berkshire mua lại năm 2001 với giá 225 triệu đô la.
• Dịch vụ kinh doanh CORT, cho các văn phòng và các phòng đồng sở hữu thuê đồ đạc chất lượng, được Berkshire mua lại năm 2000 với giá 467 đô la, bao gồm cả 83 triệu đô la nợ.
• Ben Bridge Jeweler, một chuỗi cửa hàng West Coast do cùng một gia đình sở hữu và điều hành trong bốn thế hệ. Yêu cầu khi mua lại cửa hàng đó là gia đình Brigde vẫn tiếp tục quản lý công ty. Berkshire mua lại công ty này vào năm 2000 với mức giá không được công bố công khai.
• Justin Industries, chuyên sản xuất ủng phương Tây (Justin, Tony Lama, và những nhãn hiệu khác) dưới nhãn hiệu Acme, được Berkshire mua lại năm 2000 với giá 600 triệu đô la.
• Benjamin Moore, sản xuất sơn trong 121 năm được Berkshire mua lại năm 2000 với giá 1 tỉ đô la.
• Shaw Industries, nhà sản xuất thảm lớn nhất thế giới. Berkshire mua lại 87% công ty hồi năm 2000 và phần còn lại vào đầu năm 2002, với tổng số tiền mua lại là 2 tỉ đô la. Hiện tại, ngoại trừ ngành bảo hiểm, Shaw là công ty lớn nhất của Berkshire với lợi nhuận năm 2003 là 436 triệu đô la.

Mua một doanh nghiệp (P3)

Chiến lược này có hiệu quả. Thông qua thông báo công khai này, và cũng thông qua những lời gợi ý từ phía các nhà quản lý ở các công ty hiện tại của Berkshire, Buffett mua lại một loạt các công ty thành công khiến mọi người phải kinh ngạc. Một vài trong số đó là công ty con của Berkshire trong vài thập kỷ, và những câu chuyện về các công ty này đã trở thành một phần trong truyền thuyết về Buffett.

Ví dụ như See’s Candy Shops trở thành một chi nhánh của Berkshire kể từ năm 1972. Vụ mua bán này quả là đáng chú ý, bởi vì nó tiêu biểu cho lần đầu tiên Buffett rời bỏ “châm ngôn” của Ben Graham để chỉ mua những công ty bị định giá thấp. Giá mua cuối cùng, 30 triệu đô la, cao gấp ba lần giá trị sổ sách. Chắc chắn rằng, đó là một quyết định sáng suốt. Chỉ riêng trong năm 2003, lợi nhuận thu được trước thuế của See đã đạt con số 59 triệu đô la, xấp xỉ hai lần giá mua thực tế.

Trong đại hội thường niên của Berkshire năm 1997, 25 năm sau vụ mua See, Charlie Munger hồi tưởng lại: “Đó là lần đầu tiên chúng tôi chi tiền cho chất lượng”. Buffett nói thêm: “Nếu chúng ta không mua See, chúng ta cũng sẽ không mua Coke”. Phần sau của chương này, tôi sẽ làm sáng tỏ ý nghĩa đầy đủ của lời nhận xét đó.

Một công ty nổi tiếng khác đối với những người luôn theo sát Berkshire đó là Nebraska Furniture Mart. Hệ thống bán lẻ khổng lồ này bắt đầu hoạt động tại Omaha, quê hương của Buffett từ năm 1938 khi một người Nga nhập cư, bà Rose Blumkin bán đồ đạc trong tầng hầm của bà để mở một hàng nhỏ. Năm 1983, khi bà Blumkin được nhiều người biết đến, Buffett đã trả 55 triệu đô la để mua 80% cửa hàng của bà.

Ngày nay, Nebraska Furniture Mart, bao gồm các đơn vị bán lẻ chiếm hơn 100 nghìn m2 trên một khoảnh đất rộng, bán nhiều đồ nội thất hơn bất kỳ cửa hàng nào khác trên đất nước. Buffett điều hành cửa hàng thứ hai đó là Mart thứ hai, mở cửa năm 2002 tại thành phố Kansas. Trong thư gửi cổ đông năm 2003, Buffett đã liên hệ thành công của hệ thống rộng hơn 40 nghìn m2 này với bà B. huyền thoại, người vẫn làm việc cho tới khi qua đời ở tuổi 104. Buffett viết: “Một kinh nghiệm bà truyền lại cho chúng ta đó là nếu bạn bán với giá thấp, khách hàng sẽ tìm bạn bằng mọi cách”. Cửa hàng của chúng ta phục vụ thành phố Kansas rộng lớn hơn, toạ lạc tại một trong những vùng dân cư thưa thớt hơn của khu vực, đã chứng minh quan điểm của bà B. Mặc dù có hơn 10 hécta để đỗ xe, nhưng hầu như lúc nào cũng trong tình trạng quá tải, hết chỗ”.

Mua một doanh nghiệp (P2)

Từ quan điểm của chủ sở hữu, Buffett cho rằng mua cổ phiếu cũng giống như mua các công ty, mua các công ty cũng giống như mua cổ phiếu. Nguyên lý giống nhau áp dụng cho cả hai trường hợp, và vì vậy cả hai đều là những bài học quan trọng dành cho chúng ta.

Những nguyên lý này được mô tả khá chi tiết từ Chương 5 tới Chương 8. Nói tóm lại, chúng tạo nên Phong cách đầu tư Warren Buffett, và chúng được áp dụng, gần như là theo bản năng, mỗi khi ông xem xét mua cổ phiếu của một công ty, hay mua lại toàn bộ công ty. Trong chương này, chúng ta sẽ đi lướt qua một số vụ mua bán, để từ đó chúng ta hiểu sâu sắc hơn những bài học chúng đưa ra.

Bức hoạ khảm với nhiều ngành kinh doanh

Tập đoàn Berkshire Hathaway ngày nay được hiểu chính xác nhất là một
công ty cổ phần. Cùng với các công ty bảo hiểm, tập đoàn này còn là chủ sở hữu của một tờ báo, một công ty sản xuất kẹo, một chuỗi cửa hàng kem/humburger, một nhà xuất bản từ điển bách khoa, một nhà cung cấp nguyên liệu khung tranh theo đơn đặt hàng, một công ty sơn, một công ty sản xuất và phân phối đồng phục, một công ty kinh doanh máy hút bụi, công ty phục vụ công cộng, một số công ty sản xuất giày, và một nhãn hiệu đồ lót quen thuộc cùng với rất nhiều công ty khác.

Một vài trong số những công ty này, đặc biệt, những công ty mới mua lại gần đây là những công ty mà Buffett tìm thấy bằng một cách rất Buffett: Ông đăng quảng cáo cần mua chúng trong những báo cáo thường niên của Berkshire Hathaway.

Tiêu chuẩn của ông thật thẳng thắn: một doanh nghiệp đơn giản, dễ hiểu với mức doanh lợi ổn định, lợi nhuận trên vốn tốt, nợ ít, và ban quản lý tốt. Ông quan tâm tới những công ty nằm trong mức từ 5 tỉ tới 20 tỉ đô la, những công ty càng lớn càng tốt. Ông không quan tâm tới sự thay đổi, người tiếp quản thù địch, hay những tình huống không rõ ràng, giá đặt mua không được xác định. Ông hứa sẽ bảo mật hoàn toàn và phúc đáp nhanh chóng.

Trong các báo cáo thường niên của Berkshire Hathaway và trong bài bình luận gửi các cổ đông, ông thường mô tả chiến lược mua lại theo cách này: “Việc này đòi hỏi kỹ thuật cao. Charlie và tôi chỉ ngồi lại với nhau và đợi chờ điện thoại reo. Đôi khi đó là một cú điện thoại gọi nhầm số”.

MUA MỘT DOANH NGHIỆP

Berkshire Hathaway là một tập đoàn phức hợp nhưng không phức tạp. Hiện tại, tập đoàn bao gồm gần 100 doanh nghiệp độc lập đó là các công ty tái bảo hiểm mà tôi đã đề cập đến ở chương trước, và rất nhiều các doanh nghiệp phi bảo hiểm khác được mua lại thông qua nguồn lợi tức của tập đoàn bảo hiểm. Sử dụng dòng tiền mặt đó, tập đoàn cũng mua cả cổ phiếu và trái phiếu của các công ty phát hành ra công chúng. Xuyên suốt tất cả các hoạt động này là lối suy nghĩ thực tế của Warren Buffett trong cách nhìn nhận một vụ đầu tư: Khi nào ông xem xét mua lại toàn bộ công ty, hay khi nào thì ông đánh giá để mua chứng khoán.

Buffett tin tưởng rằng, không có sự khác biệt cơ bản nào giữa hai công việc trên. Cả hai đều biến ông trở thành chủ sở hữu của một công ty. Vì thế, theo ông, cả hai quyết định đều nên xuất phát từ quan điểm của người chủ. Đây là điều quan trọng nhất để hiểu phương pháp đầu tư của Buffett: Mua cổ phiếu có nghĩa là mua một doanh nghiệp và đòi hỏi một phương pháp tương tự. Thực tế, Buffett luôn ưu tiên sở hữu trực tiếp một công ty, bởi vì việc này cho phép ông gây ảnh hưởng tới việc ông coi là vấn đề then chốt nhất trong một công ty đó là: Phân bổ nguồn vốn. Nhưng khi cổ phiếu thể hiện một giá trị tốt hơn, ông sẽ lựa chọn sở hữu một phần của một công ty thông qua việc mua cổ phiếu thường của công ty đó.

Trong bất cứ trường hợp nào, Buffett cũng thực hiện một chiến lược giống nhau: Ông tìm kiếm những công ty mà ông biết rõ, có lịch sử lợi nhuận ổn định, triển vọng phát triển dài hạn, có khả năng thu được lợi nhuận tốt từ vốn thông qua phát hành cổ phiếu với mức nợ thấp, và do những con người có đủ khả năng và chân thật điều hành, và quan trọng là những công ty đó phải luôn được chào bán với giá hấp dẫn. Phương thức hướng về chủ sở hữu khi xem xét những vụ đầu tư tiềm năng là nền tảng cho phương pháp đầu tư của Buffett.

Tất cả những gì chúng ta muốn là đầu tư vào những công ty chúng ta hiểu biết, do những người chúng ta yêu quý điều hành, và chào giá hấp dẫn, cân xứng với triển vọng trong tương lai.

NGÀNH KINH DOANH CHÍNH CỦA CHÚNG TÔI LÀ BẢO HIỂM (P9)

Biện pháp tạo sự khác biệt thứ hai liên quan tới triết lý bảo hiểm của Buffett. Mục tiêu của ông thật đơn giản: Luôn luôn thảo số lượng hợp đồng lớn nhưng chỉ với những mức giá có thể chấp nhận được. Nếu giá thấp, ông bằng lòng hạn chế việc kinh doanh. Triết lý này được thấm nhuần tại Công ty Bồi thường Quốc gia từ thời của người sáng lập ra nó là Jack Ringwalt. Buffett nói, kể từ đó Berkshire không bao giờ có ý định bỏ qua phương pháp này. Ngoại lệ duy nhất là General Re, và vụ định giá thấp của công ty gây ảnh hưởng lớn tới toàn bộ kết quả hoạt động của Berkshire trong vài năm. Ngày nay, tình trạng khó khăn đó đã được khắc phục.

warrenbuffett

Sức mạnh tài chính của Berkshire tạo sự khác biệt cho tập đoàn bảo hiểm so với phần còn lại của ngành. Khi các đối thủ cạnh tranh biến mất trên thương trường bởi lo sợ trước những thảm hoạ gần đây, Berkshire vẫn luôn ở vị thế là một một nhà cung cấp bảo hiểm chuyên nghiệp. Nói tóm lại, sự hợp nhất tài chính mà Buffett áp dụng đối với các công ty bảo hiểm của Berkshire đã tạo ra một hệ thống cấp quyền kinh doanh trong đó không gì khác là một ngành kinh doanh sản phẩm tiện nghi. Không có gì đáng ngạc nhiên khi Buffett viết, theo cách thẳng thắn thường thấy ở ông: “Ngành kinh doanh chính của chúng ta là bảo hiểm”.

Luồng tiền mặt do tập đoàn bảo hiểm Berkshire tạo ra quả là khó tin: Khoảng 44,2 tỉ đô la trong năm 2003. Điều Buffett làm với số tiền đó thể hiện bản chất công ty của ông và cá nhân ông. Và điều đó đưa chúng ta đến chương tiếp theo của cuốn sách.

NGÀNH KINH DOANH CHÍNH CỦA CHÚNG TÔI LÀ BẢO HIỂM (P8)

Warren Buffett hiểu biết về ngành bảo hiểm theo cách mà ít người có thể làm. Thành công của ông xuất phát từ nhiều nguyên nhân. Đó là từ sự thừa nhận bản chất hàng hoá thiết yếu của ngành và nâng tầm những công ty bảo hiểm của ông lên trở thành công ty có quyền kinh doanh độc lập.

Các công ty bảo hiểm bán sản phẩm mà không thể phân biệt được với những sản phẩm của đối thủ cạnh tranh khác. Các hợp đồng bảo hiểm được tiêu chuẩn hoá và bất kỳ ai cũng có thể sao chụp lại. Không hề có bất kỳ thương hiệu, bằng sáng chế, lợi thế nào. Có được giấy phép thật dễ dàng và tỉ lệ bảo hiểm là một cuốn sách công cộng. Nói cách khác, bảo hiểm là một sản phẩm tiện nghi.

Trong kinh doanh sản phẩm tiện nghi, cách thông thường để giành thị phần là giảm giá. Trong những giai đoạn cạnh tranh khốc liệt, những công ty khác sẵn sàng bán hợp đồng bảo hiểm dưới giá trị của hoạt động kinh doanh còn hơn là để mất thị phần. Buffett khẳng định Tập đoàn bảo hiểm Berkshire sẽ không rơi vào tình trạng không có lợi nhuận. Chỉ khi tại General Re điều này xảy ra mà Buffett đã không nhận ra.

Bạn có thể luôn thảo những hợp đồng bảo hiểm cố định. Có một thị trường không biên giới cho những hợp đồng bảo hiểm cố định. Chúng rất có vấn đề, bởi vì trong ngày đầu tiên thu được phí bảo hiểm, đó cũng là lần cuối cùng bạn nhìn thấy bất kỳ khoản tiền mới nào. Kể từ đó, tất cả mọi thứ đều chảy ra. Và đó không phải là mục đích trong cuộc sống của chúng ta.

Không sẵn sàng cạnh tranh về mặt giá cả, thay vào đó, Buffett cố gắng làm các công ty bảo hiểm của Berkshire trở nên khác biệt theo hai cách khác nhau. Trước hết, thông qua thế mạnh tài chính. Ngày nay, xét về lợi nhuận và doanh thu. Tập đoàn tái bảo hiểm Berkshire xếp thứ hai, chỉ sau AIG, trong ngành tổn thất bất động sản. Thêm vào đó, tỉ lệ danh mục đầu tư của Berkshire (35,2 tỉ đô la) so với tổng phí bảo hiểm (8,1 tỉ đô la) tương đối cao hơn mức trung bình của ngành.

NGÀNH KINH DOANH CHÍNH CỦA CHÚNG TÔI LÀ BẢO HIỂM (P8)

Tập đoàn tái bảo hiểm do Ajit Jain đứng đầu. Ajit sinh ra tại Ấn Độ, tốt nghiệp Học viện công nghệ Ấn Độ và trường Đại học Harvard. Gần đây, ông nói vui rằng khi ông gia nhập Berkshire hồi năm 1982, ông thậm chí không biết tái bảo hiểm là gì, tuy vậy ông đã xây dựng một công ty có mức lợi nhuận khổng lồ, và nhận được sự khen ngợi cao nhất của Buffett trong nhiều năm.

Hoạt động dựa trên nền tảng sự hùng mạnh tài chính của Berkshire, tập đoàn tái bảo hiểm có thể thảo ra những hợp đồng bảo hiểm mà các công ty khác, thậm chí là các công ty tái bảo hiểm khác, không bao giờ dám “béng mảng” tới. Một số công ty đứng ngoài lề bởi vì những hợp đồng bảo hiểm này quá đặc biệt: một hợp đồng bảo hiểm cho trường hợp làm tổn hại đến thân thế hoặc thanh danh đối với siêu sao Alex Rodriges của đội bóng chày Texas Rangers, hay cho một vụ thanh toán trị giá 1 tỉ đô la của một tấm vé số trên Internet. Nhận xét vụ bảo hiểm thứ hai, Phó Chủ tịch Tập đoàn tái bảo hiểm cho rằng: “Chỉ cần phí bảo hiểm cao hơn tỷ lệ, thì chúng ta hoàn toàn cảm thấy thoải mái”.

Số lượng tham gia bảo hiểm tại tập đoàn bảo hiểm không phải quá là hào nhoáng. Tuy vậy, công ty thu được nhiều lợi nhuận. Doanh thu tăng đáng kể trong năm 2002 và 2003. Sau vụ khủng bố ngày 11 tháng Chín, nhiều công ty và cá nhân đã tăng danh mục bảo hiểm của họ lên rất nhiều, tuy vậy trong hai năm tiếp theo không hề xảy ra thảm hoạ nào. Trong năm 2003, Tập đoàn tái bảo hiểm Berkshire Hathaway thu được 4,43 tỉ đô la tiền phí bảo hiểm, mang lại tổng số tiền thả nổi xấp xỉ 14 tỉ đô la.

Có lẽ quan trọng hơn là chi phí tiền mặt thả nổi năm đó âm 3% – có nghĩa là không có chi phí, mà chỉ có lợi nhuận. (Trong trường hợp này, hãy nhớ rằng “âm” là một số dương). Đó là bởi vì trong năm 2003, Tập đoàn tái bảo hiểm thu được lợi nhuận bảo hiểm (thu được nhiều phí bảo hiểm hơn số tiền phải thanh toán bồi thường thiệt hại) trị giá hơn 1 tỉ đô la. Để dễ dàng so sánh, trong cùng một năm, lợi nhuận bảo hiểm của GEICO là 452 triệu đô la, và của General Re là 145 triệu đô la.

Không có gì phải phân vân khi Buffett nói về Ajit Jain: “Nếu bạn nhìn thấy Ajit tại đại hội thường niên của chúng ta, thì hãy tôn kính cúi chào ông ấy”.