Ngày: Tháng Năm 23, 2019

WARREN BUFFETT

Chính Munger thuyết phục Buffett trả giá gấp ba lần giá trị sổ sách cho See’s Candy, cuối cùng đây là một thương vụ thành công (Xem đầy đủ câu chuyện tại Chương 4). Đó là khi suy nghĩ của Buffett bắt đầu thay đổi, và ông vui vẻ thừa nhận rằng chính Charlie đã đẩy ông tới một định hướng mới. Cả hai nhanh chóng thêm vào rằng khi bạn tìm thấy một công ty chất lượng cũng đồng thời đang được chào bán với giá chiết khấu, thì có nghĩa là bạn đã “đào đúng mạch dầu”. Hoặc, trong trường hợp của Berkshire, đó chính là điều tốt nhất tiếp theo: Coca-Cola.

Buffett

Một nguyên nhân khiến cho Buffett và Munger rất hoà hợp với nhau đó là cả hai người đều kiên quyết đối với những nguyên tắc kinh doanh cơ bản. Giống như Buffett từng chấp nhận mức tiền lãi thu được nghèo nàn trong ngành công nghiệp bảo hiểm và trong một thời gian đã từ chối ký kết các hợp đồng. Với Charlie, trong vai trò là CEO của Wesco, ông cũng từ chối các khoản vay khi phải đương đầu với ngành công nghiệp cho vay và các khoản tiết kiệm đầy bất chắc. Cả hai đều thể hiện những phẩm chất quản lý cần thiết để điều hành những công ty chất lượng cao. Các cổ đông của Berkhire Hathaway may mắn khi có được những cộng sự quản lý chăm sóc phần lợi tức của họ và giúp họ kiếm tiến trong tất cả các môi trường kinh tế. Trong tương lai, các cổ đông của Berkshire vẫn tiếp tục hưởng lợi không phải từ một, mà là từ hai cái đầu thông minh.

Bước ngoặt của những ảnh hưởng

Một thời gian ngắn sau khi Graham qua đời năm 1976, Buffett trở thành người quản lý được chỉ định cho phương pháp đầu tư giá trị của Graham. Thực sự, cái tên Buffett đồng nghĩa với đầu tư giá trị. Lý do thật đơn giản. Ông là một trong những học trò tận tâm nổi tiếng nhất của Graham, và Buffett không bao giờ bỏ lỡ cơ hội thừa nhận món nợ trí tuệ ông đã nợ Graham. Thậm chí ngày nay, Buffett vẫn coi Graham là người có ảnh hưởng nhiều nhất tới sự nghiệp đầu tư của ông sau cha ông.

Vậy thì Buffett hoà hợp món nợ trí tuệ không thể trả Graham với các vụ mua cổ phiếu như Washington Post (năm 1973) và Coca-Cola (năm 1988) như thế nào? Mặc dù chưa bao giờ vượt qua được bài kiểm tra tài chính nghiêm ngặt về mua cổ phiếu của Graham, nhưng trong cả hai vụ mua lại trên, Buffett đã thực hiện những vụ đầu tư quan trọng.

Charles Munger

Mối quan hệ công việc giữa Munger và Buffett không được hợp thức hoá thành một hợp đồng hợp danh chính thức, nhưng qua nhiều năm, hai ông ngày càng trở nên thân thiết hơn, cộng sinh hơn. Thậm chí trước khi Munger tham gia Hội đồng Quản trị Berkshire, cả hai đã cùng nhau đưa ra nhiều quyết định đầu tư và thường bàn bạc ý kiến hàng ngày. Những công việc kinh doanh của họ dần trở nên gắn bó với nhau hơn.

Charles Munger

Ngày nay, Munger tiếp tục giữ chức vụ là Phó Chủ tịch Hội đồng Quản trị của Berkshire Hathaway và cũng đóng vai trò là Chủ tịch Hội đồng Quản trị của Wesco Financial – công ty mà Berkshire sở hữu tới 80% và tiến hành nhiều vụ đầu tư tương tự. Về mọi mặt, ông đóng vai trò cộng sự đồng quản lý được thừa nhận và là một người bạn tuyệt vời của Buffett. Để hiểu được hai người thân thiết với như thế nào, chúng ta chỉ đếm trong các báo cáo của Buffett số lần xuất hiện câu “Charlie và tôi” đã làm điều này, hoặc quyết định điều đó, hoặc tin vào điều này, hoặc xem xét vấn đề đó, hoặc nghĩ điều này – như thể “Charlie và tôi” là tên một người vậy.

Đối với mối quan hệ công việc của họ, Munger không chỉ nhạy bén về tài chính mà còn am hiểu luật kinh doanh. Ông cũng mang lại một triển vọng tri thức khá khác biệt với Buffett. Munger đặc biệt quan tâm tới kiến thức ở nhiều lĩnh vực khác nhau – khoa học, lịch sử, triết học, tâm lý học, toán học và tin rằng một lĩnh vực đều có những khái niệm quan trọng mà những con người thận trọng có thể và nên áp dụng cho tất cả nỗ lực của họ, bao gồm cả những quyết định đầu tư. Ông gọi chúng là “những ý tưởng lớn”, và chúng là nền tảng của khái niệm nổi tiếng của ông về “hàng rào mắt cáo của những mô hình trí tuệ” đối với các nhà đầu tư.

Tất cả những mảng kiến thức này đều có mối liên hệ mật thiết với nhau – kiến thức tài chính, nền tảng luật pháp, và sự đánh giá cao những bài học từ các môn học khác – khiến triết lý đầu tư của Munger khác biệt với Buffett. Trong khi Buffett vẫn đang tìm kiếm các cơ hội đầu tư với mức giá hợp lý, thì Munger tin vào việc trả một mức giá tương đối cho các công ty có chất lượng. Triết lý của ông rất có sức thuyết phục.

Mua một công ty tuyệt vời với giá tương đối còn tốt hơn là mua một công ty tương đối với giá tuyệt vời.

Xem thêm: Đăng ký tài khoản chứng khoán

Charles Munger

Khi Warren Buffett khởi đầu Công ty hợp danh đầu tư tại Omaha năm 1956, ông chỉ có hơn 100 nghìn đô la tiền vốn. Vì vậy, nhiệm vụ ban đầu là phải thuyết phục thêm những nhà đầu tư cùng góp vốn. Trong khi ông đang trình bày chiến lược kinh doanh chi tiết, tỉ mỉ với những người hàng xóm là tiến sĩ Edwin Davis và vợ thì đột nhiên Davis ngắt lời ông và bất ngờ thông báo rằng họ sẽ ủng hộ ông 100 nghìn đô la. Khi Buffett hỏi lý do, Davis trả lời rằng: “Bởi vì ông làm tôi nhớ tới Charlie Munger”.

Munger_Charles

Vậy Charlie là ai?

Mặc dù cả Buffett và Charlie đều trưởng thành tại Omaha và có nhiều bạn bè chung, nhưng thực tế họ không hề gặp nhau cho đến năm 1959. Vào thời gian đó, Munger chuyển tới phía Nam California, nhưng khi cha ông qua đời, ông đã quay trở về Omaha. Tiến sĩ David quyết định rằng đó là thời điểm thích hợp để hai người đàn ông trẻ tuổi gặp gỡ nên đã mời họ tới dùng bữa tối trong một nhà hàng địa phương. Đó là nơi khởi đầu cho một mối quan hệ hợp tác phi thường.

Munger là con trai của một luật sư và là cháu trai của một thẩm phán liên bang, đã thành lập một văn phòng luật sư thành công tại Los Angeles, nhưng mối quan tâm của ông dành cho chứng khoán cũng rất lớn. Trong bữa ăn tối đầu tiên, cả hai người đàn ông trẻ tuổi nói chuyện về rất nhiều chủ đề, trong đó có cả chứng khoán. Kể từ đó, họ thường xuyên liên lạc với nhau, Buffett thường xuyên hối thúc Munger từ bỏ nghề luật sư và tập trung vào chứng khoán. Cùng một lúc, Munger làm cả hai việc. Năm 1962, ông thành lập một công ty hợp danh đầu tư giống như công ty của Buffett, trong khi vẫn tiếp tục duy trì văn phòng luật sư. Sau ba năm rất thành công, ông hoàn toàn từ bỏ văn phòng luật, mặc dù cho tới thời điểm này, ông vẫn có một văn phòng mang tên ông.

Công ty hợp danh đầu tư của Munger tại Los Angeles, và của Buffett tại Omaha, đều có cùng phương pháp đầu tư. Cả hai đều tìm kiếm cơ hội mua cổ phiếu chiết khấu dưới giá trị thực. (Họ tận hưởng những kết quả giống nhau, cả hai đều vượt qua chỉ số công nghiệp trung bình Dow Jones với mức biên đầy ấn tượng). Sau đó, cũng không có gì ngạc nhiên khi họ mua cùng một số loại chứng khoán. Vào cuối những năm 1960, giống như Buffett, Munger bắt đầu mua cổ phiếu của Blue Chip Stamps, và cuối cùng trở thành Chủ tịch Hội đồng Quản trị của công ty đó. Khi Berkshire và Blue Chip Stamps sáp nhập năm 1978, ông trở thành Phó Chủ tịch Hội đồng Quản trị của Berkshire, và giữ vị trí này cho tới ngàynay.

John Burr Williams (P2)

Lý thuyết đầu tư giá trị là một tác phẩm kinh điển. Trong 60 năm, lý thuyết này đóng vai trò là nền tảng cho các nghiên cứu của rất nhiều các nhà kinh tế học nổi tiếng như Eugene Fama, Harry Markowitz, Franco Modigliani, và một số người khác. Warren Buffett gọi tác phẩm này là một trong những cuốn sách đầu tư quan trọng nhất.

ly thuyet cua John Burr Williams

Lý thuyết của Williams, ngày nay được biết đến là mô hình chiết khấu cổ tức hay phân tích chiết khấu dòng tiền thực, đưa ra một phương thức đưa giá trị vào cổ phiếu hoặc trái phiếu. Giống như nhiều ý kiến quan trọng khác, lý thuyết này được đơn giản hoá thành quy tắc: Để biết một cổ phiếu ngày hôm nay đáng giá bao nhiêu, hãy ước tính dòng tiền mặt nhận được từ cổ phiếu đó trong tương lai và sau đó chiết khấu chúng để đưa về giá trị hiện tại. Đây là một phương pháp luận cơ sở mà Warren Buffett sử dụng để đánh giá cổ phiếu và các công ty.

Buffett rút gọn lý thuyết của Williams như sau: “Giá trị của một doanh nghiệp được xác định bằng dòng tiền thực có thể rút ra từ doanh nghiệp trong thời gian hoạt động được chiết khấu với tỷ lệ chiết khấu hợp lý”. Williams mô tả: “Nuôi một con bò để lấy sữa, một con gà để lấy trứng; và một cổ phiếu, tất nhiên là để lấy cổ tức”.

Mô hình của Williams là một quy trình gồm hai bước. Trước hết, ước tính lưu lượng tiền mặt để xác định giá trị trong tương lai và hiện tại của một công ty. Ước tính lưu lượng tiền mặt bằng cách nào? Một biện pháp tính toán nhanh chóng đó là số tiền cổ tức được chi trả cho các cổ đông. Đối với những công ty không phân phối lượng cổ tức, Williams tin rằng, theo lý thuyết, tất cả tiền lãi được giữ lại cuối cùng sẽ chuyển thành phần cổ tức. Khi một công ty đạt tới giai đoạn trưởng thành, công ty đó sẽ không cần tái đầu tư phần tiền lãi để tăng trưởng, vì vậy, ban quản lý bắt đầu phân phối tiền lãi dưới dạng cổ tức. Williams viết: “Nếu tiền lãi không được trả dưới dạng cổ tức thì đều được tái đầu tư thành công, sau đó số tiền lãi này sẽ sản sinh ra cổ tức; nếu không, số tiền này sẽ bị mất đi. Nói tóm lại, một cổ phiếu chỉ đáng giá bằng số tiền bạn thu được từ nó”.

Bước thứ hai đó là chiết khấu những lưu lượng tiền mặt đã ước tính để đề phòng trường hợp bất chắc. Chúng ta có thể không bao giờ chắc chắn được về việc một công ty sẽ làm, sản phẩm của công ty đó sẽ được bán như thế nào hoặc việc ban quản lý sẽ làm hoặc không làm để cải thiện tình hình kinh doanh của công ty. Yếu tố rủi ro luôn tồn tại, đặc biệt là đối với cổ phiếu, mặc dù lý thuyết của Williams áp dụng công bằng đối với cả trái phiếu.

Như vậy, chúng ta nên sử dụng cái gì như một tỉ lệ chiết khấu? Bản thân Williams không hề đề cập đến điểm này rõ ràng, ông tin rằng các độc giả của ông có thể tự xác định điều gì là hợp lý. Phương pháp đo lường của Buffett rất dễ hiểu: Ông sử dụng hoặc là tỉ lệ lãi suất trong dài hạn (có nghĩa là 10 năm) của trái phiếu Mỹ, hoặc là khi tỉ lệ lãi suất rất thấp, ông sử dụng tỉ lệ lợi tức tích luỹ trung bình của toàn bộ thị trường chứng khoán.

Thông qua sử dụng tỷ lệ lãi suất với mức rủi ro bằng 0, Buffett sửa đổi bản luận án của Williams. Bởi vì Buffett giới hạn số cổ phiếu sẽ mua ở biên độ an toàn của Ben Graham, nên ông chắc chắn rằng rủi ro đã nằm trong bản thân giao dịch, và vì vậy ông tin rằng sử dụng tỉ lệ chiết khấu có rủi ro bằng 0 là hợp lý.

Tác giả Peter Bernstein trong cuốn sách Capital Ideas (Những ý tưởng về vốn), viết rằng hệ thống của Graham là một tập hợp các quy tắc, trong khi mô hình chiết khấu cổ tức của Williams là một lý thuyết, nhưng “cả hai phương pháp đều đi tới đích là gợi ý những loại chứng khoán giống nhau để mua bán”.

Warren Buffett sử dụng cả hai phương pháp và đạt được thành công vang dội.

John Burr Williams

John Burr Williams tốt nghiệp trường Đại học Harvard năm 1923 và tiếp tục theo học trường Kinh tế Harvard, nơi lần đầu tiên ông tiếp xúc với phương pháp phân tích chứng khoán và dự báo kinh tế. Sau khi rời Harvard, ông làm việc với tư cách một nhân viên phân tích chứng khoán tại hai công ty nổi tiếng ở Phố Wall. Ông làm việc tại đó suốt giai đoạn đầu của những năm 1920 và cuộc Đại khủng hoảng năm 1929. Kinh nghiệm đó khiến ông tin rằng để trở thành một nhà đầu tư giỏi, cũng cần phải trở thành một nhà kinh tế học giỏi.

John Burr Williams

Vì vậy, trong năm 1932, ở tuổi 30 và đã là một nhà đầu tư tốt, ông đã ghi danh vào trường Khoa học và Nghệ thuật thuộc Đại học Harvard. Williams làm việc với một niềm tin kiên định rằng điều gì xảy ra trong nền kinh tế sẽ ảnh hưởng tới giá trị của cổ phiếu, nên quyết định tiếp tục học để trở thành tiến sĩ kinh tế học.

Khi chọn đề tài luận án tiến sĩ, Williams xin lời khuyên của Joseph Schumpeter, một nhà kinh tế học người Áo nổi tiếng với lý thuyết sự phá huỷ sáng tạo, sau đó trở thành thành viên của khoa kinh tế học. Schumpeter đã gợi ý rằng Williams hãy xem xét “giá trị nội tại của một cổ phiếu thường”. Shumpeter cho rằng việc này phù hợp với kinh nghiệm và nền tảng học vấn của Williams. Sau đó, Williams nhận xét rằng, có lẽ Schumpeter có một lý do hoài nghi hơn: Đề tài sẽ giúp Williams không phải chạm chán với số sinh viên còn lại của khoa, “không ai trong số họ muốn thách thức ý kiến của tôi trong lĩnh vực đầu tư”. Tuy vậy, gợi ý của Schumpter chính là động lực cho luận án tiến sĩ nổi tiếng của Williams, đó là Lý thuyết đầu tư giá trị. Kể từ đó, lý thuyết này có ảnh hưởng tới các nhà phân tích và đầu tư tài chính.

Williams hoàn thành luận án vào năm 1937. Mặc dù ông không bảo vệ luận
án và trước sự phẫn nộ của một số giáo sư. Ông đã gửi tác phẩm của ông cho Macmillian để xuất bản. Macmillan từ chối. Và nhà xuất bản McGraw- Hill cũng vậy. Cả hai nhà xuất bản đều cho rằng cuốn sách có quá nhiều biểu tượng đại số. Cuối cùng, năm 1938, Williams tìm được nhà xuất bản Harvard University Press, nhưng chỉ sau khi ông chấp nhận trả một phần chi phí in ấn. Hai năm sau, Williams đã thi vấn đáp và sau một số tranh luận sôi nổi về nguyên nhân của cuộc Đại Khủng Hoảng, ông đã thi đỗ.

Xem thêm: Chứng quyền có bảo đảm là gì?