Ngày: Tháng Năm 21, 2019

Học vấn của Warren Buffett (P10)

Cuối cùng, Fisher nghiên cứu một doanh nghiệp cụ thể và những đặc điểm quản lý của một công ty và so sánh nó với những doanh nghiệp khác trong cùng ngành. Trong nghiên cứu này, Fisher cố gắng khám phá ra những manh mối giúp ông hiểu được sự vượt trội của một công ty so đối thủ cạnh tranh. Ông kết luận, chỉ đọc những báo cáo tài chính của một công ty không đủ để đánh giá một vụ đầu tư. Ông giải thích, điều cần thiết trong đầu tư thận trọng là càng khám phá nhiều về một công ty từ những cá nhân quen thuộc với công ty thì càng tốt. Fisher thừa nhận điều này là một yêu cầu quản lý thông tin mà ông gọi là ‘’tin đồn’’. Ngày nay, chúng ta gọi nó là “tin vịt” trong kinh doanh. Fisher khẳng định nếu kiểm soát hợp lý tin đồn sẽ cung cấp cho nhà đầu tư những đầu mối quan trọng để xác định những vụ đầu tư đáng chú ý.

so sanh

Nghiên cứu về tin đồn của Fisher khiến ông phải tiếp xúc với nhiều nguồn thông tin. Ông nói chuyện với khách hàng và những người bán rong. Ông tìm kiếm những nhân viên cũ cũng như những nhà tư vấn từng làm việc cho công ty. Ông liên lạc với những nhà nghiên cứu khoa học của các trường đại học, nhân viên chính phủ, và những nhà điều hành hiệp hội thương mại. Ông trò chuyện với các đối thủ cạnh tranh. Mặc dù những nhà điều hành đôi khi ngần ngại bật mí quá nhiều về công ty của họ, nhưng Fisher phát hiện ra rằng họ luôn nói nhiều về các đối thủ cạnh tranh.

Hầu hết các nhà đầu tư đều không sẵn sàng dành thời gian và sức lực mà Fisher cho là cần thiết để hiểu một công ty. Phát triển mạng lưới tin đồn và sắp xếp những cuộc phỏng vấn rất tốn thời gian. Tái tạo quá trình tin đồn cho mỗi một công ty dưới sự giám sát có thể làm kiệt sức. Fisher tìm ra một cách thức đơn giản để giảm khối lượng công việc – ông giảm tối đa số lượng công ty mà ông sở hữu. Ông luôn nói rằng ông thích sở hữu một số ít công ty nổi bật hơn là nhiều công ty trung bình. Nói chung, danh mục đầu tư của ông ít hơn 10 công ty, và thường là có ba tới bốn công ty chiếm 75% tổng số danh mục tài sản của ông.

Fisher tin rằng, để thành công, nhà đầu tư chỉ cần làm một số việc thật tốt. Một trong số đó là chỉ đầu tư vào những công ty nằm trong vòng tròn khả năng của họ. Bản thân Fisher từng phạm phải sai lầm ngay từ khi khởi nghiệp. “Tôi bắt đầu đầu tư bên ngoài phạm vi ngành kinh doanh mà tôi tin là tôi hiểu thấu đáo, và một số hoạt động xảy ra ngoài tầm hiểu biết của tôi”.

 

Học vấn của Warren Buffett (P9)

Tiêu chuẩn thứ hai của Fisher để xác định những công ty vượt trội là chất lượng quản lý. Ông tin rằng, những nhà quản lý cấp cao kiên quyết phát triển sản phẩm và dịch vụ mới, qua đó tiếp tục thúc đẩy tăng trưởng doanh thu trong dài hạn sau khi những sản phẩm hay dịch vụ hiện tại đã được khai thác triệt để. Ban quản lý nên đề ra những chính sách để đảm bảo duy trì số tiền lãi liên tục trong 10 hoặc 20 năm, thậm chí phải hạ thấp tầm quan trọng của lợi nhuận trước mắt. Ông nhấn mạnh hạ thấp chứ không hi sinh. Nhà quản lý trên cấp trung bình có thể đưa ra những kế hoạch dài hạn của công ty trong khi vẫn tập trung vào những hoạt động điều hành hàng ngày.

chất lượng quản lý

Một đặc điểm mà Fisher coi là có ý nghĩa then chốt: Liệu một doanh nghiệp có được quản lý liêm chính và trung thực không? Liệu các nhà quản lý có cư xử như thể họ là những người đáng tin cậy đối với các cổ đông, hay chỉ quan tâm tới lợi ích của riêng mình?
Fisher bật mí một cách xác định mục đích của họ. Đó là quan sát cách các nhà quản lý giao tiếp với cổ đông. Một hoạt động kinh doanh, dù tốt hay xấu, đều phải trải qua những giai đoạn khó khăn không mong đợi. Nói chung, khi hoạt động kinh doanh thuận lợi, nhà quản lý có thể nói tuỳ thích, nhưng khi công ty lâm vào tình trạng suy thoái, thì một số nhà quản lý ngồi im thin thít. Fisher lưu ý rằng cách ban quản lý phản ứng trước khó khăn nói lên rất nhiều điều về công ty.

Ông đưa ra ý kiến, với một doanh nghiệp thành công, thì ban quản lý cũng phải xây dựng mối quan hệ công việc tốt đẹp với mọi nhân viên. Nhân viên nên cảm thấy công ty của họ là nơi làm việc lý tưởng. Những nhân viên lao động tay chân nên cảm thấy họ được đối xử tôn trọng và theo đúng phép tắc. Những nhân viên điều hành nên cảm thấy sự thăng tiến dựa vào năng lực, chứ không phải do sự thiên vị.

Fisher cũng xem xét mức độ sâu sắc của quản lý. Ông hỏi, liệu một Giám đốc Điều hành có một đội ngũ nhân viên tài năng và liệu CEO có thể uỷ quyền để điều hành một phần của công ty hay không?

Học vấn của Warren Buffett (P8)

Tuy vậy, theo quan điểm của Fisher, tiềm năng của thị trường chỉ làm nên một nửa câu chuyện, phần còn lại là những khoản lợi nhuận thích hợp. “Doanh số tăng sẽ không tạo ra phương tiện đầu tư thích hợp nếu qua nhiều năm, lợi nhuận không tăng trưởng tương ứng’’. Theo đó, Fisher nghiên cứu lợi nhuận biên của một công ty, những nỗ lực duy trì và cải thiện những đường biên này, và cuối cùng là phân tích chi phí và kiểm soát tài chính.

Business Investment Analysis

Theo Fisher, không có công ty nào có thể duy trì lợi nhuận ổn định, trừ khi giảm các chi phí kinh doanh Fisher cũng hiểu rằng không thể cắt giảm chi phí của mỗi bước trong quá trình sản xuất.

Ông giải thích để cắt giảm chi phí, một công ty phải thấm nhuần việc kiểm soát tài chính thích hợp và phân tích chi phí. Fisher lưu ý, chi phí thông tin sẽ cho phép một công ty trực tiếp chuyển nguồn lực thành các sản phẩm hay dịch vụ với tiềm năng kinh tế cao nhất. Hơn thế nữa, kiểm soát thanh toán sẽ giúp xác định những sai sót trong cách điều hành công ty. Những sai sót trong điều hành công ty hay điều hành không hiệu quả này đóng vai trò như một thiết bị cảnh báo nhằm bảo vệ toàn bộ khả năng lợi nhuận của công ty.

Sự nhạy cảm của Fisher về khả năng lợi nhuận của một công ty dẫn đến một mối lo ngại khác: Khả năng phát triển trong tương lai của một công ty không yêu cầu cung cấp thêm vốn thông qua phát hành cổ phiếu. Ông nói, nếu một công ty phát triển chỉ bằng cách bán cổ phiếu, thì số lượng cổ phiếu lớn hơn còn tồn sẽ huỷ bỏ bất kỳ khoản phúc lợi nào mà các cổ đông có thể nhận được từ sự tăng trưởng của công ty.

Fisher giải thích rằng, một công ty với lợi nhuận biên cao có khả năng tạo ra quỹ nội bộ tốt hơn và vì vậy sẽ duy trì mức tăng trưởng mà không cần phải ”pha loãng’’ quyền sở hữu với những cổ đông hiện tại.

Xem thêm: Chứng quyền có bảo đảm là gì?

Học vấn của Warren Buffett (P7)

Philip Fisher

Trong khi Graham đang viết cuốn Phân tích chứng khoán, thì Philip Fisher khởi nghiệp với nghề tư vấn đầu tư. Sau khi tốt nghiệp trường Quản trị Kinh doanh Stanford, Fisher bắt đầu làm việc với tư cách là nhân viên phân tích chứng khoán cho Anglo London&Paris National Bank tại San Francisco. Trong khoảng gần hai năm, ông trở thành trưởng phòng thống kê của ngân hàng. Chính từ vị trí này, ông chứng kiến vụ sụp đổ của thị trường chứng khoán năm 1929. Sau một khoảng thời gian ngắn làm việc không hiệu quả với phòng môi giới chứng khoán địa phương, Fisher quyết định mở công ty tư vấn đầu tư của riêng mình. Ngày 1 tháng Ba năm 1931, công ty Fisher&Company chính thức bắt đầu tư vấn cho khách hàng.

philip-fisher

Tại Stanford, một trong những lớp học kinh doanh yêu cầu Fisher phải đi cùng thày giáo tới thăm thường kỳ các công ty tại khu vực San Francisco. Tại đây, người thày lắng nghe các nhà quản lý kinh doanh nói về hoạt động của họ, và giúp đỡ họ giải quyết những vấn đề trước mắt. Trở lại Stanford, Fisher và người thày của ông tóm lược lại những gì họ quan sát từ các công ty và những nhà quản lý mà họ đã tới thăm. Fisher nói: “Thời gian đó là khoá học đào tạo hữu ích nhất mà tôi được học’’.

Từ những kinh nghiệm này, Fisher tin tưởng rằng mọi người sẽ thu được những khoản lợi nhuận tối ưu bằng cách: (1) đầu tư vào những công ty có tiềm năng trên mức trung bình và (2) kết hợp bản thân chúng với khả năng quản lý chuyên nghiệp nhất. Để lựa chọn đúng những công ty đặc biệt này, Fisher phát triển một hệ thống điểm đánh giá phân loại thông qua các đặc điểm kinh doanh và quản lý của công ty.

Đối với cách phân loại thứ nhất – những công ty có tiềm năng trên mức trung bình – đặc điểm gây ấn tượng mạnh mẽ nhất đối với Fisher là tỷ lệ tăng trưởng doanh số bán hàng qua nhiều năm của một công ty lớn hơn tỉ lệ trung bình của ngành. Sự tăng trưởng đó là sự kết hợp của hai nhân tố: đầu tư mạnh mẽ vào nghiên cứu triển khai (R&D), và một doanh nghiệp kinh doanh hiệu quả. Một công ty sẽ phát triển được những sản phẩm và dịch vụ vượt trội chỉ khi được “kinh doanh chuyên nghiệp’’, nếu không nỗ lực nghiên cứu và triển khai sẽ không bao giờ biến thành doanh thu.

Học vấn của Warren Buffett (P6)

Qua nhiều năm, nhiều nhà đầu tư khác đã tìm kiếm con đường tắt tương tự để xác định giá trị thực của cổ phiếu. Tỉ lệ P/E thấp là một lựa chọn chung. Tuy vậy, chúng ta biết rằng, đưa ra quyết định chỉ dựa vào tỉ lệ P/E không đủ để đảm bảo lợi nhuận. Ngày nay, hầu hết các nhà đầu tư dựa vào định nghĩa có giá trị kinh điển của John Burr Williams, được mô tả ở phần sau của chương này: giá trị của bất kỳ vụ đầu tư nào là giá trị hiện tại được chiết khấu của dòng tiền tương lai.

chi-so-p-e

Những ý tưởng cơ bản nhất về đầu tư là xem xét các cổ phiếu như các công ty dưới góc độ kinh doanh, biến những biến động của thị trường thành lợi thế của mình và tìm kiếm một biên độ an toàn. Đó là điều Ben Graham dạy chúng ta. Một trăm năm sau, chúng sẽ vẫn là nền tảng của đầu tư.

Cả hai phương pháp của Graham – mua cổ phiếu với giá thấp hơn 2/3 giá trị tài sản ròng và mua cổ phiếu với tỉ lệ P/E thấp – có một đặc điểm chung. Cổ phiếu mà Graham lựa chọn dựa trên những phương pháp này thường không được thị trường ủng hộ. Một số sự kiện vĩ mô hoặc vi mô khiến thị trường định giá những cổ phiếu này thấp hơn giá trị thực. Graham cảm thấy rõ ràng rằng những cổ phiếu, được định giá “thấp không công bằng’’ là những vụ mua bán hấp dẫn.

Kết luận của Graham dựa trên một số giả thuyết cụ thể. Trước hết, ông tin rằng thị trường thường định giá cổ phiếu theo cảm giác lo sợ hoặc tham lam của con người. Ở đỉnh cao của sự lạc quan, tính tham lam đẩy giá cổ phiếu lên mức cao hơn giá trị thực, tạo ra thị trường định giá quá cao. Tại những thời điểm khác, nỗi sợ hãi đẩy giá xuống thấp hơn giá trị thực, tạo ra thị trường định giá thấp. Giả thuyết thứ hai của ông dựa trên hiện tượng có tính chất thống kê được gọi là “sự trở lại giá trị trung bình”, mặc dù ông không sử dụng thuật ngữ đó. Nói cách khác, ông dẫn lời nhà thơ Horace: “Nhiều thứ hiện tại đang sa sút sẽ được phục hồi và nhiều thứ hiện tại vinh quang sẽ sa sút”. Tuy vậy, như nhà thống kê hay nhà thơ đã phát biểu, Graham tin rằng một nhà đầu tư sẽ thu lợi nhuận từ những tác động đúng đắn vào thị trường thiếu hiệu quả.

Xem thêm: Chứng quyền là gì?