Ngày: Tháng Chín 6, 2018

Tìm hiểu các thuật ngữ cơ bản của sản phẩm chứng quyền

Để hiểu rõ được chứng quyền có bảo đảm, nhà đầu tư cần nắm bắt những thuật ngữ cơ bản liên quan đến sản phẩm này.

hợp đồng tương lai là gì

– Loại chứng quyền: có 2 loại chứng quyền cơ bản

* Chứng quyền mua (call warrant): cho phép người sở hữu có quyền, nhưng không phải là nghĩa vụ được mua một chứng khoán cơ sở với mức giá được xác định trước vào ngày đáo hạn, hoặc trước ngày đáo hạn.

* Chứng quyền bán (put warrant): cho phép người sở hữu có quyền, nhưng không phải là nghĩa vụ được bán một chứng khoán cơ sở với mức giá được xác định trước vào ngày đáo hạn, hoặc trước ngày đáo hạn.

– Chứng khoán cơ sở: chứng quyền có bảo đảm có thể được phát hành trên nhiều chứng khoán cơ sở khác nhau như: cổ phiếu đơn lẻ, chỉ số chứng khoán, ETF.

-Giá chứng quyền (phí chứng quyền): là số tiền mà nhà đầu tư phải trả cho tổ chức phát hành chứng quyền (người bán chứng quyền) để sở hữu chứng quyền. Khi niêm yết và giao dịch trên Sở GDCK, giá chứng quyền chính là giá giao dịch trên thị trường và thông thường, giá chứng quyền khá nhỏ so với giá trị thực của chứng khoán cơ sở.

-Ngày đáo hạn: mỗi chứng quyền có bảo đảm đều có tuổi thọ và kết thúc vào ngày được xác định trước trong tương lai. Đây chính là ngày cuối cùng để nhà đầu tư sở hữu chứng quyền thực hiện quyền.

-Giá thực hiện: là giá của chứng khoán cơ sở được xác định trước, dùng để tính toán khi nhà đầu tư thực hiện quyền.

-Tỷ lệ chuyển đổi: khi chứng quyền có bảo đảm được phát hành, thông thường sẽ có thông tin về tỷ lệ chuyển đổi. Tỷ lệ chuyển đổi cho biết cần bao nhiêu chứng quyền để có được một chứng khoán cơ sở. Tỷ lệ chuyển đổi có thể là 1:1, hoặc 3:1, hoặc tỷ lệ nào đó tùy thuộc vào tổ chức phát hành.

Kiểu thực hiện quyền: giống như quyền chọn của chứng khoán phái sinh, chứng quyền có bảo đảm có thể được phát hành theo kiểu châu Âu hay kiểu Mỹ.

* Chứng quyền kiểu Mỹ cho phép người sở hữu thực hiện quyền vào bất kỳ thời điểm nào, trước hoặc đến khi chứng quyền đáo hạn.

* Chứng quyền kiểu châu Âu chỉ cho phép người sở hữu thực hiện quyền khi chứng quyền đáo hạn.

-Quyền của người sở hữu chứng quyền: nhà đầu tư nắm giữ chứng quyền có quyền thực hiện, hoặc không thực hiện quyền khi chứng quyền đáo hạn. Trường hợp nhà đầu tư không thực hiện, khoản lỗ tối đa đối với nhà đầu tư chính là khoản phí để sở hữu chứng quyền đó.

-Nghĩa vụ của tổ chức phát hành: tổ chức phát hành có nghĩa vụ chuyển giao hoặc mua chứng khoán cơ sở, hoặc thanh toán tiền mặt khi nhà đầu tư sở hữu chứng quyền có yêu cầu.

Nguồn: Sở Giao dịch chứng khoán TP.HCM

Ưu điểm và rủi ro của đầu tư chứng quyền có bảo đảm

Chứng quyền có bảo đảm (covered warrant) là sản phẩm tài chính cung cấp cho người sở hữu quyền (mà không phải nghĩa vụ) được mua hoặc bán tài cơ sở với giá được xác định trước tại một thời điểm đã được ấn định trong tương lai. Tài sản dùng làm cơ sở cho chứng quyền có bảo đảm bao gồm các loại như: cổ phiếu đơn lẻ, rổ cổ phiếu, chỉ số chứng khoán, hàng hóa và tiền tệ, có thể thấy chứng quyền có bảo đảm mang đến cho nhà đầu tư một loạt các cơ hội đầu tư hấp dẫn. Trong thời gian đầu triển khai tại Việt Nam sẽ chỉ có chứng quyền mua, hình thức thanh toán bằng tiền và chỉ có cổ phiếu được chọn là chứng khoán cơ sở. Xem chi tiết bài viết Chứng quyền có bảo đảm là gì tại đây.

chứng quyền có bảo đảm.jpg

Ưu điểm của đầu tư chứng quyền

Nhà đầu tư có thể sử dụng chứng quyền có bảo đảm cho nhiều mục đích khác nhau như:

  • Khả năng phòng hộ rủi ro cả khi thị trường tăng hay giảm.
  • Chi phí thấp so với cổ phiếu trong khi có thể tối ưu hóa lợi nhuận thu được từ biến động giá của chứng khoán cơ sở.
  • Hiệu ứng đòn bẩy cao có thể mang lại cho nhà đầu tư một tỷ lệ lợi nhuận trên vốn đầu tư (ROI) lơn hơn.
  • Mức phí tổn do lỗ vốn được khống chế tối đa bằng mức chi phí đầu tư ban đầu (phí mua chứng quyền).

Ví dụ: Cổ phiếu XYZ đang được giao dịch trên HOSE với giá 130.000 VNĐ/cổ phiếu. Cùng lúc có chứng quyền mua XYZC0918 giao dịch trên thị trường với giá 12.000VNĐ/chứng quyền. Chứng quyền XYZC0918 kiểu Châu Âu, cung cấp quyền mua cổ phiếu XYZ tại mức giá 150.000VNĐ/cổ phiếu, ngày đáo hạn 30/09/2018.

Nhà đầu tư A đầu tư mua 1000 cổ phiếu XYZ. Tổng giá trị đầu tư = 1000 x 130.000 = 130 triệu VNĐ.

Nhà đầu tư B đầu tư mua 1000 chứng quyền XYZC0918, tổng giá trị đầu tư = 1000 x 12.000 = 12 triệu VNĐ.

Giả sử tại ngày đáo hạn (30/9/2018) giá của cổ phiếu XYZ là 170.000 VNĐ/cổ phiếu. Theo đó:

Nhà đầu A có mức sinh lời = 1000 x (170.000 – 130.000) = 40 triệu VNĐ. Tỉ suất sinh lời = 40 triệu/ 130 triệu = 30,77%.

Nhà đầu tư B có mức sinh lời = 1000 x (170.000 – 150.000) – 12 triệu = 8 triệu VNĐ. Tỉ suất sinh lời = 8 triệu/ 12 triệu = 66,67%.

Các rủi ro đi kèm

Bên cạnh sức hấp dẫn được tạo ra bởi yếu tố đòn bảy, nhà đầu tư cần hiểu được các rủi ro đi kèm trong giao dịch chứng quyền.

  • Đòn bẩy cao cũng có nghĩa là chứng quyền sẽ nhạy cảm hơn đối với các thông tin tốt, xấu của chứng khoán cơ sở và do đó mức sinh lời hay rủi ro đối với chứng quyền cũng cao hơn.
  • Thời gian tồn tại của chứng quyền thông thường là ngắn hạn từ 3-24 tháng và sau thời gian này, chứng quyền sẽ không được giao dịch hay thực hiện quyền nữa.
  • Các rủi ro phát sinh khi nhà phát hành phá sản hoặc gặp khó khăn về tài chính dẫn đến không thể thực hiện nghĩa vụ thanh toán cho nhà đầu tư khi chứng quyền đến hạn. Chính vì vây, trước khi mua chứng quyền, nhà đầu tư nên tìm hiểu kỹ về tình trạng tài chính của nhà phát hành và không nên giao dịch chứng quyền khi còn nghi ngờ về năng lực tài chính của họ.

Xem thêm: Phân biệt chứng quyền có bảo đảm, quyền chọn và chứng quyền công ty

Phân biệt chứng quyền có bảo đảm, quyền chọn và chứng quyền công ty

Cùng với chứng quyền có bảo đảm (covered warrant), quyền chọn (option) và chứng quyền công ty (traditional/equity warrant) là những sản phẩm có một số đặc điểm tương đồng nhưng về bản chất đây là những sản phẩm khác nhau. Vậy, giữa các sản phẩm này có những điểm chung gì? Làm sao để phân biệt được các sản phẩm này trên thị trường chứng khoán?

Có thể nói điểm chung dễ thấy nhất đối với cả ba sản phẩm trên là người sở hữu sẽ có quyền (mà không phải nghĩa vụ) được mua cổ phiếu cơ sở với mức giá được xác định trước tại một thời điểm đã được ấn định. Vậy, giữa chúng khác nhau như thế nào? Làm sao để phân biệt? Hãy cùng xem xét những yếu tố chính dưới đây.

giao dịch hợp đồng tương lai

a) Tổ chức phát hành

Nếu như quyền chọn cổ phiếu là sản phẩm được Sở Giao dịch Chứng khoán thiết kế với các điều khoản được chuẩn hóa thì chứng quyền có bảo đảm chỉ được phát hành bởi các tổ chức tài chính (mà thường là các công ty chứng khoán), trong khi đó chứng quyền công ty là sản phẩm thường được các công ty niêm yết phát hành và thường được phát hành kèm theo việc phát hành trái phiếu hoặc cổ phiếu ưu đãi. Bên cạnh đó, khi phát hành các sản phẩm, Sở Giao dịch không thu bất cứ khoản phí nào cho việc thiết kế và niêm yết quyền chọn cổ phiếu, trong khi đó tổ chức phát hành chứng quyền được khoản tiền từ việc bán chứng quyền có bảo đảm.

b) Tài sản cơ sở

Tài sản dùng làm cơ sở cho cả quyền chọn và chứng quyền có bảo đảm bao gồm nhiều loại như: cổ phiếu, chỉ số chứng khoán, ETF, tiền tệ,… hay các loại hàng hóa khác. Trong khi đó, tài sản cơ sở cho chứng quyền công ty chỉ là cổ phiếu phổ thông của chính công ty đó.

c) Giá thực hiện

Cả quyền chọn cổ phiếu và chứng quyền có bảo đảm đều có thể có nhiều mức giá thực hiện tùy thuộc vào từng điều kiện đã được xác lập trước đó cho mỗi đợt phát hành còn chứng quyền công ty chỉ có một mức giá thực hiện.

d) Vị thế giao dịch

Khi niêm yết, đối với quyền chọn cổ phiếu nhà đầu tư có thể bán quyền chọn khi không sở hữu những quyền chọn này còn đối với chứng quyền có bảo đảm hay chứng quyền công ty, nhà đầu tư chỉ được bán chứng quyền có bảo đảm khi đã sở hữu nó.

e) Điều khoản của sản phẩm

Điều khoản của quyền chọn cổ phiếu được các Sở Giao dịch Chứng khoán thiết kế dựa trên những điều khoản đã được chuẩn hóa về cấu trúc, quy mô, điều khoản về thực hiện quyền và chuyển giao tài sản cơ sở, trong khi đó đối với chứng quyền có bảo đảm và chứng quyền công ty, những điều khoản của sản phẩm sẽ do tổ chức phát hành (Công ty chứng khoán hay công ty) quy định, và những điều khoản này có thể sẽ khác nhau đối với từng sản phẩm mà họ phát hành.

f) Chuyển giao tài sản khi thực hiện quyền

Quyền chọn cổ phiếu là hợp đồng giữa một bên là những cá nhân hay tổ chức tài chính sẵn sàng mua cổ phiếu với một bên là những cá nhân hay tổ chức tài chính cũng sẵn sàng bán cổ phiếu tại một mức giá cụ thể. Vì vậy, khi thực hiện quyền việc chuyển giao tài sản sẽ được thực hiện bởi các nhà đầu tư.

Đối với chứng quyền, do tổ chức phát hành là các tổ chức tài chính (công ty chứng khoán) nên việc chuyển giao tài sản khi thực hiện quyền được thực hiện bởi công ty chứng khoán với những người sở hữu chứng quyền có bảo đảm.

Đối với chứng quyền công ty, khi đến hạn, những người sở hữu chứng quyền muốn thực hiện quyền sẽ yêu cầu công ty phát hành thêm cổ phiếu mới và việc chuyển giao tài sản sẽ được thực hiện bởi công ty phát hành với nhà đầu tư. Một điểm khác biệt nữa giữa các sản phẩm này đó chính là khi thực hiện quyền bằng chuyển giao tài sản cơ sở, quyền chọn cổ phiếu và chứng quyền có bảo đảm không làm gia tăng vốn đối với tổ chức phát hành tài sản cơ sở, ngược lại vốn của tổ chức phát hành cổ phiếu cho nhà đầu tư sở hữu chứng quyền công ty sẽ gia tăng.

Sự phát triển của thị trường và sự ra đời của các sản phẩm mới cho phép nhà đầu tư có nhiều lựa chọn công cụ đầu tư mà chứng quyền có bảo đảm cũng không là ngoại lệ.

Nhà đầu tư cần trang bị cho mình kiến thức tốt về sản phẩm, nắm bắt xu hướng thị trường đồng thời xác định được khẩu vị rủi ro của bản thân, từ đó tìm ra được các chiến lược đầu tư phù hợp nhất đối sản phẩm đầy hấp dẫn này.

Nguồn: NDH